Tòa án có thể xét xử bị cáo với mức hình phạt khác với Cáo trạng của Viện kiểm sát không ?
Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2019
Tòa án có quyền xét xử khoản khác nặng hơn với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật có được không?
Phiên tòa hình sự theo quy định mới
1. Quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:
Điều 196 Bộ Luật tố tụng hình sự quy định:
"Tòa
án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy
tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.
Toà
án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố
trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm
sát đã truy tố".
Nghị
quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi
hành một số quy định trong phần thứ ba "Xét xử sơ thẩm của BLTTHS năm 2003
quy định như sau:
2.1. Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm
sát đã truy tố trong cùng một điều luật, có nghĩa là với những hành vi mà Viện
kiểm sát truy tố, Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn hoặc theo
khoản nhẹ hơn so với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật.
Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo A về năm hành vi lừa đảo chiếm đoạt
tài sản theo khoản 2 Điều 139 của Bộ luật hình sự. Theo quy
định tại đoạn 2 Điều 196 của BLTTHS thì Toà án có thể xét
xử bị cáo A về năm hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản này theo khoản 1 hoặc theo khoản 3 hoặc cũng có thể theo
khoản 4 Điều 139 của Bộ luật hình sự.
2.2. Toà án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà
Viện kiểm sát đã truy tố, có nghĩa là với những hành vi mà Viện kiểm sát truy
tố, Toà án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện
kiểm sát đã truy tố.
a. Tội phạm khác bằng tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố là trường hợp điều
luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối
với hai tội phạm như nhau.
Ví dụ: Bị cáo B bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Vận chuyển trái phép
chất ma tuý”, thì Toà án có thể xét xử bị cáo B về tội “Tàng trữ trái phép chất
ma tuý”.
b. Tội phạm khác nhẹ hơn tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố là trường
hợp điều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ
sung) đối với tội phạm khác nhẹ hơn so với tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy
tố. Để xác định tội nào nhẹ hơn, tội nào nặng hơn thì cần thực hiện theo thứ tự
như sau:
b.1. Trước hết xem xét hình phạt chính đối với hai tội phạm, nếu tội nào điều
luật có quy định loại hình phạt nặng nhất nặng hơn thì tội đó nặng hơn.
Ví dụ: Đối với tội cố ý gây thương tích (Điều 104 của Bộ luật
hình sự), điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất là tù chung thân, còn
đối với tội giết người (Điều 93 của Bộ luật hình sự), điều luật
quy định loại hình phạt nặng nhất là tử hình; do đó, tội giết người nặng hơn
tội cố ý gây thương tích.
b.2. Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với
cả hai tội là tù có thời hạn (không quy định hình phạt tử hình, hình phạt tù
chung thân) thì tội nào, điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất đối với
tội ấy cao hơn là tội đó nặng hơn.
Ví dụ: Đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97 của Bộ luật hình sự), điều luật quy định mức hình phạt
tù cao nhất là mười lăm năm, còn đối với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy
tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99 của Bộ luật
hình sự), điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất là mười hai năm; do
đó, tội làm chết người trong khi thi hành công vụ nặng hơn tội vô ý làm chết
người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính.
b.3. Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với
cả hai tội đều tử hình hoặc đều tù chung thân hoặc đều tù có thời hạn và mức
hình phạt tù cao nhất đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật quy
định mức hình phạt tù khởi điểm cao hơn là tội đó nặng hơn.
Ví dụ: Đối với tội hiếp dâm (Điều 111 của Bộ luật hình sự)
và đối với tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 của Bộ luật hình sự),
điều luật đều quy định hình phạt tử hình, hình phạt tù chung thân và hình phạt
tù có thời hạn có mức cao nhất là hai mươi năm, nhưng mức hình phạt tù khởi
điểm đối với tội hiếp dâm là hai năm, còn đối với tội hiếp dâm trẻ em là bảy
năm; do đó, tội hiếp dâm trẻ em nặng hơn tội hiếp dâm.
b.4. Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với
cả hai tội đều là tù có thời hạn và mức hình phạt tù khởi điểm, mức hình phạt
tù cao nhất như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định loại hình phạt chính
khác nhẹ hơn (cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo) thì tội đó nhẹ hơn.
Nếu điều luật cùng quy định các loại hình phạt như nhau, nhưng có mức cao nhất,
mức khởi điểm khác nhau thì việc xác định tội nặng hơn, tội nhẹ hơn được thực
hiện tương tự như hướng dẫn tại các điểm b.2 và b.3 tiểu mục 2.2 mục 2 Phần II
của Nghị quyết này.
b.5. Trong trường hợp điều luật quy định các loại hình phạt chính đối với
cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là
tội đó nặng hơn. Nếu điều luật cùng quy định hình phạt bổ sung như nhau, nhưng
đối với tội này thì hình phạt bổ sung là bắt buộc, còn đối với tội khác hình
phạt bổ sung có thể áp dụng, thì tội nào điều luật quy định hình phạt bổ sung
bắt buộc là tội đó nặng hơn.
2.3. Khi Viện kiểm sát truy tố bị cáo về nhiều tội với nhiều hành vi phạm
tội, thì giới hạn của việc xét xử đối với từng tội được thực hiện theo hướng
dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần II của Nghị quyết này. Toà án cũng
có thể xét xử bị cáo về tội nhẹ nhất trong các tội mà Viện kiểm sát truy tố
hoặc về tội nhẹ hơn tất cả các tội mà Viện kiểm sát truy tố đối với tất cả các
hành vi phạm tội đó.
Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo M về năm hành vi phạm tội, trong đó
hai hành vi phạm tội bị truy tố về tội cướp tài sản, còn ba hành vi phạm tội bị
truy tố về tội cướp giật tài sản, thì Toà án có thể xét xử bị cáo M về tội cướp
giật tài sản đối với cả năm hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố (tội cướp
giật tài sản nhẹ hơn tội cướp tài sản). Toà án cũng có thể xét xử bị cáo M về
tội cưỡng đoạt tài sản đối với cả năm hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố
(tội cưỡng đoạt tài sản nhẹ hơn tội cướp giật tài sản và tội cướp tài sản).
2.4. Khi thực hiện các trường hợp được hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và
2.3 mục 2 Phần II của Nghị quyết này cần thi hành đúng các quy định của BLTTHS
về thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp, về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm
và về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo.
Theo tinh thần hướng dẫn của các quy định nêu trên thì Tòa án căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ diễn biến phiên tòa để quyết định mức hình phạt cụ thể mà không cần thiết trả hồ sơ để điều tra bổ sung về một khoản nặng hơn so với khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị truy tố.
2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định như thế nào ?
Thực
tiễn xét xử cho thấy quy định tại điều 196 BLTTHS năm 2003 là chưa thực sự phù
hợp bởi có nhiều trường hợp Viện kiểm sát truy tố tội danh chưa phù hợp với
hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện (tội nhẹ hơn) nhưng Hội đồng xét xử cũng
không được phép tuyên bị cáo đã phạm tội danh nặng hơn tội danh cáo trạng của
Viện kiểm sát truy tố. Điều đó đã dẫn đến tình trạng có trường hợp Hội đồng xét
xử đã "buộc phải kiến nghị trong bản án đề nghị cấp trên kháng nghị hủy
đối với bản án mình đã xử"[5].
Khắc
phục những bất cập nêu trên, BLTTHS năm 2015 đã mở rộng "giới hạn của việc
xét xử" thêm trường hợp Toà án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn
tội danh Viện kiểm sát truy tố.
Theo quy định tại Điều 298 BLTTHS năm 2015 thì “Trường
hợp thấy cần xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố thì tòa án trả
hồ sơ để VKS truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của
bị cáo, người bào chữa biết; nếu VKS vẫn giữ tội danh đã truy tố thì tòa án có
quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.”
Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn giữ nguyên quy định về việc Tòa án có quyền xử bị cáo với khoản khác so với khoản mà Viện kiểm sát đề nghị. Mức hình phạt này có thể nặng hơn hoặc nhẹ hơn. Tuy nhiên đối với trường hợp Tòa án nhận thấy có căn cứ để xử bị cáo về tội nặng hơn thì Tòa án sẽ tiến hành trả hồ sơ và đề nghị Viện kiểm sát truy tố lại. Trường hợp Tòa án trả hồ sơ đề nghị truy tố lại nhưng VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố thì Tòa án có quyền xử bị cáo về tội danh nặng hơn mà cáo trạng VKS đã truy tố.
Kể từ ngày BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành thì trong quyết định đưa vụ án ra
xét xử tòa án phải ghi rõ tội danh, điều, khoản của BLHS mà VKS truy tố và tội
danh, điều, khoản của BLHS mà tòa án sẽ xét xử.
-
https://dangquocvinh.blogspot.com/2018/05/toa-co-xet-xu-bi-cao-muc-hinh-phat-khac.html
Chúng tôi cám ơn bạn đã quan tâm và rất vui vì bài viết đã đem lại thông tin hữu ích cho bạn.

Trang chủ
All comments [ 0 ]
Your comments