Khái niệm, nhiệm vụ và các nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam
Thứ Năm, 7 tháng 6, 2018
I.Khái niệm:
1/
Định nghĩa: Luật hình sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật
của Việt Nam, bao gồm các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, xác định
những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm đồng thời quy định hình
phạt đối với những tội phạm ấy.
(Chỉ có luật hình sự mới quy định tội phạm và hình phạt)
Hiện nay, luật hình sự
vẫn giữ vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Bằng việc quy định
các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc có thể áp dụng đối với các vi phạm pháp
luật nguy hiểm nhất xâm phạm các điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước,
của chế độ và lợi ích hợp pháp của công dân.
Cấu tạo của luật
hình sự: Bộ luật hình sự: chương, mục, điều, khoản, điểm
2/ Đối tượng điều chỉnh:
Luật hình sự không điều chỉnh các
quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nó chỉ điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh khi có tội phạm xảy ra. Trong quan hệ pháp
luật hình sự, có hai chủ thể với những vị trí khác nhau:
Thứ nhất: Nhà nước với tư
cách là người bảo vệ luật pháp, bảo vệ lợi ích của toàn xã hội. Nhà nước có
quyền truy tố, xét xử người phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu hình phạt
tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra. Mặt
khác, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các lợi ích hợp pháp của người phạm tội.
Quyền chủ thể của Nhà nước trong quan hệ pháp luật hình sự do các cơ quan đại
diện của nhà nước thực hiện
Thứ hai: Người phạm tội có trách nhiệm chấp hành các biện pháp
cưỡng chế mà Nhà nước áp dụng đối với mình và mặt khác họ có quyền yêu cầu Nhà
nước đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Đối tượng điều chỉnh của luật
hình sự Việt Nam là quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội
khi người này thực hiện tội phạm
Thông qua việc điều chỉnh quan hệ
xã hội phát sinh do việc thực hiện tội phạm, luật hình sự Việt Nam tạo điều
kiện cho các quan hệ xã hội được Nhà nước bảo vệ phát triển, tránh khỏi sự xâm
hại của tội phạm.
3/ Phương pháp điều chỉnh:
Luật hình sự điều chỉnh quan hệ
pháp luật bằng phương pháp quyền uy. Đó là phương pháp sử dụng quyền lực nhà
nước trong việc điều chỉnh quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người
phạm tội. Nhà nước có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm mà họ đã gây ra. Nhà nước có quyền áp dụng biện pháp hình sự đối
với người phạm tội mà không bị bất kì sự cản trở của cá nhân hay của xã hội.
Người phạm tội phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về tội phạm đã gây ra, họ
phải chấp hành hình phạt mà Nhà nước áp dụng đối với họ. Trách nhiệm hình sự là
trách nhiệm thuộc về cá nhân người phạm tội, phải do chính người phạm tội gánh
chịu một cách trực tiếp mà không thể chuyển giao hay ủy thác cho người khác.
II. Những nguyên tắc cơ bản
của luật hình sự Việt Nam:
Các nguyên tắc cơ bản của luật hình
sự chính là những tư tưởng chỉ đạo của toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng
các quy định của luật hình sự vào đấu tranh phòng chống tối phạm, những nguyên
tắc đó là:
1/ Nguyên tắc pháp chế XHCN:
Nguyên tắc này yêu cầu sự triệt để
tuân thủ pháp luật từ phía Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân.
Trong lĩnh vực luật hình sự, nguyên
tắc pháp chế được coi là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt toàn bộ hoạt động xây
dựng cũng như áp dụng luật hình sự, nguyên tắc này yêu cầu:
+ Đối với cơ quan lập pháp: Việc
quy định tội mới, sửa đổi, bổ sung tội phạm hay hủy bỏ tội phạm phải được tiến
hành theo đúng quy định của pháp luật. Những hành vi phạm tội và chịu hình phạt
phải được luật hình sự quy định. Nhà nước không chấp nhận bản án hình sự về tội
không được quy định trong luật hình sự hiện hành
+ Việc xét xử hình sự phải đúng
người, đúng tội. Không hành vi phạm tội nào không bị xử lí theo luật hình sự,
không được xử oan người vô tội. Hình phạt mà tòa tuyên án phải phù hợp với các
quy định trong luật hình sự. Nguyên tắc này cũng đòi hỏi sự chính xác và thống
nhất trong việc áp dụng luật hình sự. Các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử khi
tiến hành các hoạt động của mình phải căn cứ vào quy định của pháp luật hiện
hành. Mọi sự tùy tiện trong điều tra, truy tố, xét xử đều bị coi là vi phạm
nghiêm trọng pháp chế XHCN
2/ Nguyên tắc dân chủ XHCN:
Nguyên tắc này thể hiện:
+ Luật hình sự bảo vệ và tôn trọng
các quyền dân chủ của công dân trong tất cả các mặt của đời sống. Quyền lợi của
công dân được bảo vệ như nhau, không phân biệt nòi giống, dân tộc, thành phần
xuất thân, địa vị xã hội, tình trạng tài sản.
+ Không phân biệt đối xử, không quy
định những đặc quyền, đặc lợi cho riêng tầng lớp công dân nào.
+ Đảm bảo cho nhân dân lao động tự
mình hay thông qua các tổ chức xã hội tham gia vào việc xây dựng và áp dụng
luật hình sự đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
+ Xử lí nghiêm minh các hành vi
phạm tội, đặc biệt đối với những trường hợp cố ý phạm tội gây thiệt hại lớn cho
Nhà nước, cho xã hội và cho công dân.
+ Chuyên chính với các phần tử phạm
tội có tổ chức, có hệ thống, không chịu cải tạo để trở thành công dân có ích
cho xã hội đồng thời khoan hồng đối với người nhất thời phạm tội, phạm tội vì
hoàn cảnh đặc biệt.
Cùng với nguyên tắc pháp chế XHCN,
nguyên tắc này góp phần phát huy hiệu quả của luật hình sự trong đấu tranh
phòng chống tội phạm, duy trì kỉ cương và công lí xã hội.
3/ Nguyên tắc nhân đạo XHCN:
Đối với người phạm tội, việc áp
dụng hình phạt chủ yếu là nhằm mục đích cải tạo, giáo dục họ trở thành người có
ích cho xã hội. Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam không nhằm mục đích gây
đau đớn về thể xác và không nhằm hạ thấp phẩm giá con người.
Luật hình sự Việt Nam khoan hồng
đối với người tự thú, thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội,
ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại. Luật hình sự Việt
Nam có nhiều quy định nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo như quy
định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt tù
có điều kiện…
Trong hệ thồng hình phạt của luật
hình sự Việt Nam có nhiều loại hình phạt không tước tự do. Hình phạt tù chung
thân và tử hình chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và
phạm vi áp dụng có giới hạn (không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm
tội, phụ nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi…)
4/ Nguyên tắc kết hợp hài hòa
giữa chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản:
+ Luật hình sự Việt Nam trừng trị
các hành vi phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, chống loài người và
can thiệp vào công việc nội bộ các nước khác
+ Luật hình sự Việt Nam ghi nhận và
đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế của Nhà nước trong cuộc đấu tranh chung
của loài người tiến bộ chống các hành vi gây chiến tranh, chống các tội ác diệt
chủng, diệt sinh cũng như các tội phạm quốc tế khác
Tóm lại, nguyên tắc kết hợp hài hòa
chủ nghĩa yêu nước và tinh thần
quốc tế vô sản là sự thể hiện
chính sách đối ngoại tiến bộ của luật hình sự Việt Nam.
III.
Hiệu lực của luật hình sự:
1/
Hiệu lực theo không gian:
a)
Đối với hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam: Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, luật hình
sự Việt Nam có hiệu lực đối với mọi hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt
Nam bất kể người thực hiện hành vi đó là người Việt Nam, người nước ngoài hay
người không quốc tịch.
Có 3 trường hợp:
+ Hành vi phạm tội bắt đầu và kết thúc ở Việt Nam
+ Hành vi phạm tội bắt đầu ở Việt Nam và kết thúc ở nước ngoài.
+ Hành vi phạm tội bắt đầu ở nước ngoài và kết thúc ở Việt Nam.
Nguyên tắc chủ quyền quốc gia có ngoại lệ đối với trường hợp người phạm tội được
hưởng quyền miễn trừ tư pháp (những người đứng đầu nhà nước, các thành viên của
chính phủ, những người đứng đầu các cơ quan ngoại giao, các thành viên của đoàn
ngoại giao như đại sứ, tham tán đại sứ, tùy viên…và vợ chồng hoặc con chưa
thành niên của những người nói trên), khoản 2 điều 5 BLHS.
Lãnh thổ Việt Nam dưới góc độ luật hình sự bao gồm cả đại sứ quán Việt Nam ở
nước ngoài, tàu của Việt Nam đang đi lại trên biển khơi, máy bay dân dụng mang
cờ hiệu Việt Nam đang trên đường bay, hoặc tàu chiến và máy bay quân sự của
nước CHXHCN Việt Nam ở bất cứ nơi nào. Khái niệm lãnh thổ ở đây được hiểu theo
giác độ chủ quyền quốc gia về phương diện pháp lí.
b)
Đối với hành vi phạm tội xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam:
Xuất phát từ nguyên tắc quốc tịch, luật hình sự Việt Nam có hiệu lực đối với
người có quốc tịch Việt Nam phạm tội ở nước ngoài.
Đối với người nước ngoài, người không có quốc tịch nếu thường xuyên cư trú làm
ăn sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam nếu phạm tội ở nước ngoài thì vẫn có thể bị
xử lí về hình sự theo luật hình sự Việt Nam, nếu họ phạm những tội được qui
định trong những điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia kí kết hoặc công nhận
như tội phạm chiến tranh, tội diệt chủng, tội chống loài người, tội gây chiến
tranh xâm lược (thông qua toà án hình sự quốc tế được 100 nước thông qua
01/07/01 nhưng Việt Nam chưa tham gia).
2/
Hiệu lực theo thời gian:
Bộ luật hình sự hiện hành (bộ luật hình sự năm 1999) được Quốc hội thông qua
ngày 21/12/1999 có hiệu lực từ ngày 1/7/2000. Theo luật hình sự Việt Nam, đạo
luật hình sự chỉ có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội xảy ra trong khi
đạo luật đó đang có hiệu lực thi hành (khoản 1 điều 7 BLHS)
Hiệu lực hồi tố (trường hợp ngoại lệ của hiệu lực của bộ luật hình sự)
Điều 7 khoản 3 bộ luật hình sự: Về nguyên tắc, 1 đạo luật hình sự chỉ có hiệu
lực đối với những hành vi phạm tội xảy ra trong khi nó có hiệu lực thi hành và
trước khi hết hiệu lực. Bản chất của trường hợp hiệu lực hồi tố là đạo luật
hình sự có hiệu lực với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước khi đạo luật
hình sự đó được ban hành và có hiệu lực. Nếu áp dụng hiệu lực hồi tố sẽ vi phạm
pháp chế nghiêm trọng vì vậy hiện nay luật hình sự Việt Nam chỉ cho phép áp dụng
hiệu lực hồi tố trong những trường hợp có lợi cho bị cáo (người phạm tội) “điều
luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một
hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án
treo, miễn TNHS, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định
khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội
đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”
IV.
Giải thích đạo luật hình sự: Giải thích đạo luật hình sự là làm sáng tỏ
một cách chính xác nội dung và ý nghĩa của các điều luật.
1/
Gải thích chính thức: Giải thích chính thức là giải thích
của cơ quan nhà nước được luật giao cho tiến hành (UBTV Quốc hội có quyền giải
thích)
Sự giải thích của UBTV Quốc hội có tính chất bắt buộc đối
với tất cả các cơ quan nhà nước và mọi công dân
2/
Giải thích của cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tối cao cũng
như tòa án nhân dân các cấp khi xét xử các vụ án cụ thể có trách nhiệm giải
thích luật. Sự giải thích luật của tòa án khi xét xử vụ án cụ thể có giá trị
bắt buộc trong phạm vi hiệu lực của bản án. Giải thích luật của tòa án nhân dân
tối cao có giá trị bắt buộc đối với các tòa án cấp dưới.
3/
Giải thích có tính chất khoa học: Đây là sự giải thích của
luật gia, cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ làm công tác thực tiễn…trong bài
báo, báo cáo khoa học, sách giáo khoa. Sự giải thích này không có giá trị bắt
buộc nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao kiến thức cho cán bộ tư pháp
V.
Nguyên tắc tương tự về luật:
Luật hình sự Việt Nam trước đây do chưa hoàn thiện nên đã cho phép áp dụng
nguyên tắc tương tự về luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên
việc áp dụng nguyên tắc này đòi hỏi phải chặt chẽ và tuân thủ các điều kiện
nhất định.
Hiện nay, luật hình sự Việt
Nam không cho phép áp dụng nguyên tắc tương tự. Điều 2 cũng như điều 8 đã khẳng
định rõ điều này.
-
https://dangquocvinh.blogspot.com/2018/06/khai-niem-nhiem-vu-va-cac-nguyen-tac-co.html
Chúng tôi cám ơn bạn đã quan tâm và rất vui vì bài viết đã đem lại thông tin hữu ích cho bạn.

Trang chủ
All comments [ 0 ]
Your comments