> Thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong công ty Cổ phần | Luật Lâm Vinh Tư vấn pháp luật Bình Dương

Luật Lâm Vinh - Tư vấn luật miễn phí

M

Thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong công ty Cổ phần

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2019
Với quy mô kinh doanh rộng, bao gồm nhiều cổ đông góp vốn, khả năng huy động vốn linh hoạt, nên không khó hiểu khi loại hình Công ty Cổ phần chiếm một số lượng lớn trong các loại hình pháp nhân hiện hữu tại Việt Nam.
Để kiểm soát và đảm bảo tính độc lập trong các quyết định của Thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) của Công ty Cổ phần, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích của đại đa số cổ đông góp vốn, thành viên HĐQT độc lập là chủ thể có vai trò quan trọng trong cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần.
Không phải đa số các Công ty Cổ phần đều có Thành viên HĐQT độc lập. 
Điều 134 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về cơ cấu tổ chức Công ty Cổ phần như sau:
1. Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:
a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;
b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty.
Điểm a khoản 1 Điều này có quy định Ban kiểm soát trong cơ cấu tổ chức nhưng không có sự hiện hữu của thành viên HĐQT độc lập và ngược lại Điểm b Khoản 1 Điều 134 quy định thành viên HĐQT độc lập nếu Công ty lựa chọn Cơ cấu tổ chức không có Ban kiểm soát.
ó thể dễ dàng nhận thấy, vai trò của thành viên hội đồng quản trị độc lập cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu, kiểm soát hoạt động của bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp. Trong công ty cổ phần luôn tồn tại nguy cơ xung đột về lợi ích giữa các cổ đông công ty với tư cách là người sở hữu vốn với bên kia là những người quản lý điều hành công ty với tư cách là người trực tiếp sử dụng vốn.
Tiêu chuẩn thành viên Hội đồng quản trị độc lập
Khoản 2 Điều 151 doanh nghiệp quy định tiêu chuẩn và điều kiện Thành viên độc lập Hội đồng quản trị như sau:
a) Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó.
b) Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định;
c) Không phải là người có vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty;
d) Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty;
đ) Không phải là người đã từng làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó.
3. Thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải thông báo với Hội đồng quản trị về việc không còn đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều này và đương nhiên không còn là thành viên độc lập Hội đồng quản trị kể từ ngày không đáp ứng đủ điều kiện. Hội đồng quản trị phải thông báo trường hợp thành viên độc lập Hội đồng quản trị không còn đáp ứng đủ điều kiện tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông gần nhất hoặc triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông để bầu bổ sung hoặc thay thế thành viên độc lập Hội đồng quản trị đó trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày nhận được thông báo của thành viên độc lập Hội đồng quản trị có liên quan.

 Bên cạnh quy định tại Điều 151 Luật doanh nghiệp thì Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 của Bộ Tài chính quy định về quản trị Công ty áp dụng với công ty đại chính có quy định thành viên độc lập là thành viên hội đồng quản trị đáp ứng các điều kiện sau:
- Là thành viên hội đồng quản trị không điều hành và không phải là người có liên quan với giám đốc (tổng giám đốc), phó giám đốc (phó tổng giám đốc), kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác được hội đồng quản trị bổ nhiệm.
- Không phải là thành viên hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc), phó giám đốc (phó tổng giám đốc) của các công ty con, công ty liên kết, công ty do công ty đại chúng nắm quyền kiểm soát.
TS. Nguyễn Thu Hiền là thành viên Hội đồng đánh giá quản trị công ty các doanh nghiệp niêm yết ASEAN -  Dự án của Diễn đàn Thị trường vốn khu vực ASEAN với hỗ trợ của Công ty Tài chính Quốc tế tại Việt Nam.
- Không phải là cổ đông lớn hoặc người đại diện của cổ đông lớn hoặc người có liên quan của cổ đông lớn của công ty.
- Không làm việc tại các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, kiểm toán cho công ty trong 2 năm gần nhất,
- Không phải là đối tác hoặc người liên quan của đối tác có giá trị giao dịch hàng năm với công ty chiếm từ 30% trở lên tổng doanh thu hoặc tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào của công ty trong 2 năm gần nhất.

Khái niệm thành viên độc lập tuy được quy định rõ ràng trong các văn bản luật nhưng cũng gặp khó khăn trong việc xác định liệu một cá nhân có đạt chuẩn thành viên độc lập hay không. Khó khăn lớn nhất không nằm ở chỗ liệu có thoả mãn các điều kiện quy định của luật pháp hay không, mà nằm ở chỗ liệu cá nhân đó có thật sự có quan điểm độc lập hay không. Điều này cũng tương tự như Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong các công ty, độc lập bảo vệ người lao động hay là chịu sự chi phối của người sử dụng lao động. Bởi xét về bản chất thì họ đều là người được thuê để thực hiện công việc nhất định mà thôi.


  • https://dangquocvinh.blogspot.com/2019/05/thanh-vien-hoi-ong-quan-tri-oc-loc.html
Chúng tôi cám ơn bạn đã quan tâm và rất vui vì bài viết đã đem lại thông tin hữu ích cho bạn.

All comments [ 0 ]


Your comments