Đánh giá khả năng tương tự, gây nhầm lẫn của dấu hiệu trong đơn đăng ký nhãn hiệu
Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2020
1. Để đánh giá khả năng
gây nhầm lẫn của dấu hiệu nêu trong đơn, ít nhất Cục Sở hữu trí tuệ tiến hành
tra cứu trong nguồn thông tin tối thiểu sau đây:
(i) Các đơn
đăng ký nhãn hiệu đã được nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ có ngày nộp đơn hoặc ngày
ưu tiên sớm hơn ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định
và các đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có chỉ định Việt Nam mà Cục Sở hữu trí tuệ
đã được WIPO thông báo với ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn ngày nộp đơn
hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc
tương tự;
(ii) Các
nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ hoặc thừa nhận bảo hộ đang còn hiệu lực tại Việt
Nam (kể cả các nhãn hiệu nổi tiếng) dùng cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự
hoặc có liên quan;
(iii) Các nhãn
hiệu được đăng ký đã chấm dứt hiệu lực trong thời hạn chưa quá 5 năm, trừ trường
hợp nhãn hiệu bị chấm dứt hiệu lực vì lý do không sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật Sở hữu trí tuệ, dùng cho hàng
hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự;
(iv) Các chỉ
dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam;
(v) Chỉ dẫn
nguồn gốc địa lý hàng hoá, dịch vụ; tên địa lý, các loại dấu chất lượng, dấu kiểm
tra; quốc kỳ, quốc huy của các quốc gia; cờ, tên, biểu tượng của các cơ quan, tổ
chức của Việt Nam và thế giới; tên và hình ảnh lãnh tụ, anh hùng dân tộc, tên
và hình ảnh danh nhân Việt Nam và nước ngoài... mà Cục Sở hữu trí tuệ sưu
tầm và lưu giữ.
b) Trong trường
hợp cần thiết có thể tra cứu các nguồn thông tin tham khảo ngoài nguồn thông
tin tối thiểu như các đơn đăng ký kiểu dáng công
nghiệp, tên thương mại…;
2. Đánh giá sự tương tự
đến mức gây nhầm lẫn của dấu hiệu yêu cầu đăng ký với nhãn hiệu khác.
a) Để đánh
giá dấu hiệu yêu cầu đăng ký nêu trong đơn có trùng hoặc tương tự đến mức gây
nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác (sau đây gọi là “nhãn hiệu đối chứng”) hay
không, cần phải so sánh về cấu trúc, nội dung, cách phát âm (đối với dấu hiệu
chữ), ý nghĩa và hình thức thể hiện của dấu hiệu (đối với cả dấu hiệu chữ và dấu
hiệu hình), đồng thời phải tiến hành so sánh hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu với
hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đối chứng theo quy định tại điểm này.
b) Dấu hiệu
trùng với nhãn hiệu đối chứng: dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu đối chứng
nếu dấu hiệu đó giống hệt nhãn hiệu đối chứng về cấu trúc, nội dung, ý nghĩa và
hình thức thể hiện.
c) Dấu
hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đối chứng nếu:
(i) Dấu hiệu
đó gần giống với nhãn hiệu đối chứng về cấu trúc hoặc/và nội dung hoặc/và cách
phát âm hoặc/và ý nghĩa hoặc/và hình thức thể hiện đến mức làm cho người tiêu
dùng tưởng lầm rằng hai đối tượng đó là một hoặc đối tượng này là biến thể của
đối tượng kia hoặc hai đối tượng đó có cùng một nguồn gốc;
(ii) Dấu hiệu
chỉ là bản phiên âm hoặc dịch nghĩa từ nhãn hiệu đối chứng nếu nhãn hiệu đối chứng
là nhãn hiệu nổi tiếng.
3. Đánh giá sự tương tự
của hàng hoá, dịch vụ
a) Hai hàng
hoá hoặc hai dịch vụ bị coi là trùng nhau (cùng loại) khi hai hàng hoá hoặc hai
dịch vụ đó có các đặc điểm sau đây:
(i) Có cùng
bản chất (thành phần, cấu tạo...) và cùng chức năng, mục đích sử dụng; hoặc
(ii) Có bản
chất gần giống nhau và cùng chức năng, mục đích sử dụng;
b) Hai hàng
hoá hoặc hai dịch vụ bị coi là tương tự nhau khi hai hàng hoá hoặc hai dịch vụ
đó có các đặc điểm sau đây:
(i) Tương tự
nhau về bản chất; hoặc
(ii) Tương tự
nhau về chức năng, mục đích sử dụng; và
(iii) Được
đưa ra thị trường theo cùng một kênh thương mại (phân phối theo cùng một phương
thức, được bán cùng nhau hoặc cạnh nhau, trong cùng một loại cửa hàng...);
c) Một hàng
hoá và một dịch vụ bị coi là tương tự nhau nếu thuộc một hoặc các trường hợp
sau đây:
(i) Giữa
chúng có mối liên quan với nhau về bản chất (hàng hoá, dịch vụ hoặc nguyên liệu,
bộ phận của hàng hoá, dịch vụ này được cấu thành từ hàng hoá, dịch vụ kia); hoặc
(ii) Giữa
chúng có mối liên quan với nhau về chức năng (để hoàn thành chức năng của hàng
hoá, dịch vụ này phải sử dụng hàng hoá, dịch vụ kia hoặc chúng thường được sử dụng
cùng nhau); hoặc
(iii) Giữa
chúng có mối liên quan chặt chẽ với nhau về phương thức thực hiện (hàng hoá, dịch
vụ này là kết quả của việc sử dụng, khai thác hàng hoá, dịch vụ kia...).
HOTLINE:0968.682.478
-
https://dangquocvinh.blogspot.com/2020/06/anh-gia-kha-nang-tuong-tu-gay-nham-lan.html
Chúng tôi cám ơn bạn đã quan tâm và rất vui vì bài viết đã đem lại thông tin hữu ích cho bạn.

Trang chủ
All comments [ 0 ]
Your comments