Thông tư 03/2018/TT-BXD ngày 24/04/2018 hướng dẫn Nghị định 139/2017 ngày 27/11/2017 về xử phạt vi phạm hành chính trong đầu tư, xây dựng...
Thứ Ba, 9 tháng 6, 2020
BỘ
XÂY DỰNG
------- |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- |
Số:
03/2018/TT-BXD
|
Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2018
|
THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ
139/2017/NĐ-CP NGÀY 27 THÁNG 11 NĂM 2017 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG; KHAI THÁC, CHẾ BIẾN, KINH DOANH
KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG, SẢN XUẤT, KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG; QUẢN
LÝ CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG KỸ THUẬT; KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN, PHÁT TRIỂN NHÀ Ở, QUẢN
LÝ SỬ DỤNG NHÀ VÀ CÔNG SỞ
Căn cứ Luật
Xây dựng ngày 18 tháng 6 năm 2014;
Căn cứ Luật
Xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012;
Căn cứ Nghị
định số 81/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
Căn cứ Nghị
định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ Nghị
định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành
chính;
Căn cứ Điều
81 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế
biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật
liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản,
phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở;
Theo đề nghị
của Chánh Thanh tra Bộ,
Bộ trưởng Bộ
Xây dựng ban hành Thông tư quy định chi tiết một số điều của Nghị định số
139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh
khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản
lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản
lý sử dụng nhà và công sở.
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Thông tư này
quy định chi tiết Điều 15 và Điều 79 của Nghị định số
139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh
doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng;
quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở,
quản lý sử dụng nhà và công sở (sau đây viết tắt là Nghị định số 139/2017/NĐ-CP).
2. Thông tư này
áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư xây dựng;
cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan khác.
Điều
2. Về áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng quy định
tại khoản 10 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
1. Việc tước
quyền sử dụng giấy phép xây dựng quy định tại khoản 10 Điều 15
Nghị định số 139/2017/NĐ-CP được áp dụng như sau:
a) Tước quyền sử
dụng giấy phép xây dựng từ 3 tháng đến 6 tháng đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 9 Điều 15;
b) Tước quyền sử
dụng giấy phép xây dựng từ 6 tháng đến 9 tháng đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 9 Điều 15;
c) Tước quyền sử
dụng giấy phép xây dựng từ 9 tháng đến 12 tháng đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 9 Điều 15.
2. Trong thời
hạn bị tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng cá nhân, tổ chức vi phạm không
được tổ chức thi công xây dựng.
3. Trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính có áp
dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, người có thẩm quyền ra
Quyết định phải thông báo bằng văn bản hoặc gửi quyết định xử phạt vi phạm hành
chính về Thanh tra Sở Xây dựng và cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng.
Điều
3. Về áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại quy định tại điểm c khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
1. Việc bồi
thường thiệt hại do Chủ đầu tư và bên bị thiệt hại tự thỏa thuận. Trường hợp
các bên không thỏa thuận được thì việc bồi thường thiệt hại được giải quyết
theo quy định của pháp luật dân sự.
2. Trường hợp
gây sụp đổ hoặc có nguy cơ gây sụp đổ công trình lân cận thì chủ đầu tư phải
dừng thi công xây dựng công trình và có biện pháp di dời ngay người và tài sản
của công trình lân cận. Chủ đầu tư có trách nhiệm thuê và trả chi phí thuê nhà
ở cho bên bị thiệt hại. Nhà được thuê phải đảm bảo các yếu tố về khoảng cách đi
lại, diện tích, hạ tầng xã hội để bên bị thiệt hại ổn định cuộc sống. Nếu bên
bị thiệt hại tự tìm chỗ ở (tương đương nơi ở bị ảnh hưởng) thì chủ đầu tư có
trách nhiệm trả cho bên bị thiệt hại số tiền tương ứng với số tiền thuê nhà và
chi phí di chuyển tài sản.
3. Sau khi biên
bản vi phạm hành chính được lập, Chủ đầu tư và bên bị thiệt hại không tự thỏa
thuận được về việc bồi thường thiệt hại và một bên có đơn yêu cầu gửi Chủ tịch
UBND cấp xã giải quyết thì được thực hiện theo trình tự như sau:
a) Trong thời
hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chủ tịch UBND cấp xã có trách
nhiệm tổ chức thỏa thuận lần đầu;
b) Hết thời hạn
07 ngày kể từ ngày thỏa thuận lần đầu không thành hoặc không tổ chức được thỏa
thuận lần đầu do một trong các bên vắng mặt, Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức thỏa
thuận lần hai;
c) Tại buổi thỏa
thuận lần hai mà một trong các bên vắng mặt không có lý do chính đáng thì Chủ
tịch UBND cấp xã quyết định thuê tổ chức tư vấn, có tư cách pháp nhân để xác
định mức bồi thường thiệt hại. Chi phí thuê do Chủ đầu tư chi trả. Sau khi xác
định mức bồi thường thiệt hại, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm yêu cầu Chủ
đầu tư chuyển tiền vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng do UBND cấp xã làm chủ
tài khoản. Chủ đầu tư chỉ được tiếp tục thi công xây dựng sau khi đã chuyển đủ
số tiền vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng;
d) Tại buổi thỏa
thuận lần hai mà hai bên không thống nhất được mức bồi thường thiệt hại thì hai
bên thống nhất thuê một tổ chức tư vấn, có tư cách pháp nhân để xác định mức
bồi thường thiệt hại. Trường hợp hai bên không thống nhất về tổ chức tư vấn
được thuê hoặc mức bồi thường thiệt hại do tổ chức tư vấn được thuê xác định
thì Chủ tịch UBND cấp xã thuê một tổ chức tư vấn xác định mức bồi thường thiệt
hại. Chi phí thuê do Chủ đầu tư chi trả. Căn cứ kết quả xác định mức bồi thường
thiệt hại, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm yêu cầu Chủ đầu tư chuyển tiền
vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng do UBND cấp xã làm chủ tài khoản. Chủ đầu
tư chỉ được tiếp tục thi công xây dựng sau khi đã chuyển đủ số tiền vào tài
khoản bảo lãnh tại ngân hàng;
đ) Trường hợp
một bên không thống nhất với mức bồi thường thiệt hại thì có quyền khởi kiện
tại Tòa án.
4. Trường hợp
Chủ đầu tư không bị xử phạt vi phạm hành chính thì khuyến khích áp dụng quy
định tại khoản 3 Điều này để giải quyết việc bồi thường thiệt hại.
5. Bên vi phạm
chỉ được tiếp tục thi công xây dựng khi các bên đạt được thỏa thuận và đã hoàn
thành việc bồi thường thiệt hại hoặc đã tuân thủ trình tự giải quyết quy định
tại khoản 3 Điều này.
Điều
4. Về áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng quy
định tại điểm d khoản 11 Điều 15 Nghị định số
139/2017/NĐ-CP
1. Khi người có
thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản
2, khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP,
mà hành vi này đã kết thúc, thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, cá
nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần
công trình xây dựng vi phạm.
2. Công trình, phần công trình
xây dựng vi phạm phải được tháo dỡ theo phương án, giải pháp phá dỡ được phê
duyệt cho đến khi phần còn lại của công trình đảm bảo an toàn
chịu lực khi đưa vào sử dụng.
3. Chủ đầu tư có
trách nhiệm tổ chức lập, thẩm tra, phê duyệt và thực hiện phương
án, giải pháp phá dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm theo quy định
tại khoản 2 Điều này. Phương án, giải pháp phá dỡ phải đảm bảo an toàn công
trình xây dựng sau khi phá dỡ phần vi phạm, tính mạng, sức khỏe, công trình xây
dựng lân cận và đảm bảo vệ sinh, môi trường.
4. Trường hợp
chủ đầu tư không tự giác chấp hành biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công
trình xây dựng vi phạm thì bị cưỡng chế thi hành. Người có thẩm quyền ra quyết
định cưỡng chế thuê tổ chức tư vấn lập phương án, giải pháp phá dỡ,
giao cơ quan chuyên môn về xây dựng cùng cấp thẩm định trước khi quyết định phê
duyệt phương án, giải pháp phá dỡ. Chủ đầu tư có trách nhiệm chi trả toàn bộ
chi phí liên quan đến việc cưỡng chế tháo dỡ công trình, phần công trình xây
dựng vi phạm: lập, thẩm định, phê duyệt phương án, giải pháp phá dỡ và tổ chức
cưỡng chế tháo dỡ.
Điều
5. Về áp dụng biện pháp dừng thi công xây dựng để làm thủ tục xin cấp giấy phép
xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng quy định tại khoản 12, khoản 13 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
1. Khi người có
thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản
2, khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP,
mà hành vi này đang xảy ra, thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, cá
nhân, tổ chức vi phạm còn bị xử lý như sau:
a) Cá nhân, tổ
chức vi phạm phải dừng thi công xây dựng kể từ thời điểm lập biên bản vi phạm
hành chính. Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính theo mẫu số 01
ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Trong thời
hạn quy định, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính có trách
nhiệm ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp không có thẩm
quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày lập
biên bản vi phạm hành chính, người lập biên bản phải chuyển biên bản vi phạm
hành chính và hồ sơ vụ việc (nếu có) đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính. Người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo
mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này;
c) Trong thời
hạn tối đa 60 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức
vi phạm có trách nhiệm thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy phép xây dựng hoặc
điều chỉnh giấy phép xây dựng và xuất trình người có thẩm quyền xử phạt giấy
phép xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh;
d) Hết thời hạn
quy định tại điểm c khoản này mà cá nhân, tổ chức vi phạm không xuất trình giấy
phép xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh thì người có thẩm quyền xử phạt ra
thông báo thực hiện biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng
vi phạm theo mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư này. Thông báo được gửi cá
nhân, tổ chức vi phạm, UBND cấp xã nơi có công trình vi phạm bằng hình thức gửi
bảo đảm và niêm yết công khai tại công trình vi phạm. Trường hợp cá nhân, tổ
chức vi phạm không nhận thông báo hoặc gỡ bỏ thông báo được niêm yết tại công
trình vi phạm thì UBND cấp xã nơi có công trình vi phạm có trách nhiệm niêm yết
công khai thông báo tại trụ sở UBND cấp xã. Trong thời hạn tối đa 15 ngày kể từ
ngày gửi thông báo (tính theo dấu bưu điện), cá nhân, tổ chức vi phạm có trách
nhiệm thực hiện biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi
phạm;
đ) Trong thời
hạn tối đa 05 ngày kể từ ngày cá nhân, tổ chức vi phạm xuất trình giấy phép xây
dựng được cấp hoặc được điều chỉnh, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm
tổ chức kiểm tra hiện trạng công trình xây dựng, lập biên bản ghi nhận sự phù
hợp của hiện trạng công trình với giấy phép xây dựng được cấp hoặc được điều
chỉnh. Biên bản kiểm tra, ghi nhận hiện trạng công trình được lập theo mẫu số
04 ban hành kèm theo Thông tư này;
e) Cá nhân, tổ
chức vi phạm chỉ được tiếp tục thi công xây dựng nếu biên bản kiểm tra, ghi
nhận hiện trạng công trình xác nhận hiện trạng công trình phù hợp với giấy phép
xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh. Trường hợp biên bản kiểm tra, ghi nhận
hiện trạng công trình xác nhận hiện trạng công trình không phù hợp với giấy phép
xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh thì trong thời hạn tối đa 15 ngày kể từ
ngày lập biên bản kiểm tra, ghi nhận hiện trạng công trình, cá nhân, tổ chức vi
phạm phải buộc tháo dỡ công trình, phần công trình không phù hợp với giấy phép
xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh.
2. Cách xác định
thời hạn bằng số ngày quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy
định tại Điều 147 và Điều 148 Bộ luật dân sự.
3. Cá nhân, tổ
chức vi phạm không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, không thực
hiện biện pháp buộc tháo dỡ quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì
bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
và quy định tại khoản 4 Điều 4 Thông tư này.
4. Trường hợp
điều chỉnh thiết kế xây dựng mà không thuộc trường hợp phải điều chỉnh giấy
phép xây dựng theo quy định tại Điều 98 Luật Xây dựng thì
không coi là hành vi xây dựng sai nội dung giấy phép được cấp theo quy định tại
khoản 2, khoản 4 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP.
Điều
6. Về áp dụng quy định chuyển tiếp tại Điều 79 Nghị
định số 139/2017/NĐ-CP
1. Hành vi xây dựng sai nội
dung giấy phép xây dựng; xây dựng không có giấy phép xây dựng mà theo quy định
phải có giấy phép xây dựng; xây dựng sai thiết kế được phê duyệt, sai quy hoạch
xây dựng được phê duyệt hoặc thiết kế đô thị được phê duyệt đối với trường hợp
được miễn giấy phép xây dựng, ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, còn bị
áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp theo quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP nếu đáp ứng đủ 6
điều kiện sau đây:
a) Hành vi vi phạm xảy ra từ
ngày 04/01/2008 và đã kết thúc trước ngày 15/01/2018 nhưng sau ngày 15/01/2018
mới được người có thẩm quyền phát hiện hoặc đã được phát hiện trước ngày
15/01/2018 và đã có một trong các văn bản sau đây: Biên bản vi phạm hành chính,
quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục
hậu quả hoặc quyết định áp dụng bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả;
b) Không vi phạm chỉ giới xây
dựng;
c) Không ảnh hưởng các công
trình lân cận;
d) Không có tranh chấp;
đ) Xây dựng trên đất thuộc
quyền sử dụng hợp pháp;
e) Nay phù hợp với quy hoạch
xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
2. Kể từ ngày
15/01/2018, cá nhân, tổ chức xây dựng nhà ở riêng lẻ có hành vi vi phạm thuộc
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được miễn áp dụng biện pháp buộc nộp
lại số lợi bất hợp pháp quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định
số 121/2013/NĐ-CP.
3. Số lợi bất
hợp pháp mà cá nhân, tổ chức có hành vi quy định tại khoản 1 Điều này phải nộp
được xác định như sau:
a) Trường hợp xây dựng công
trình nhằm mục đích kinh doanh: Số lợi bất hợp pháp là tổng số m2
sàn xây dựng vi phạm nhân với đơn giá 1m2 theo hợp đồng mua bán,
chuyển nhượng đã ký nhưng không được thấp hơn suất vốn đầu tư đối với cùng loại,
cấp công trình do cơ quan có thẩm quyền ban hành, nhân với 50%;
b) Trường hợp xây dựng công
trình không nhằm mục đích kinh doanh: Số lợi bất hợp pháp là tổng số m2
sàn xây dựng vi phạm nhân với chi phí 1m2 sàn xây dựng theo dự toán
được duyệt nhưng không được thấp hơn suất vốn đầu tư đối với cùng loại, cấp
công trình do cơ quan có thẩm quyền ban hành, nhân với 50%;
c) Trường hợp không có hợp đồng
mua bán, chuyển nhượng đã ký hoặc dự toán được duyệt: Số lợi bất hợp pháp được
xác định là tổng m2 sàn xây dựng vi phạm nhân với suất vốn đầu tư
đối với cùng loại, cấp công trình do cơ quan có thẩm quyền ban hành, nhân với
50%;
d) Người có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính áp dụng suất vốn đầu tư tại thời điểm ban hành quyết định xử
phạt vi phạm hành chính và chịu trách nhiệm xác định số lợi bất hợp pháp phải
nộp theo quy định tại điểm a, điểm b hoặc điểm c khoản này.
4. Hành vi vi
phạm mà đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 1, nhưng
không đáp ứng điều kiện quy định tại điểm e khoản 1 Điều này, thì xử lý như
sau:
a) Hành vi vi phạm được người
có thẩm quyền phát hiện trước ngày 15/01/2018, đã lập biên bản vi phạm hành
chính, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp
buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp nhưng đến ngày 15/01/2018 cá nhân, tổ chức vi
phạm vẫn chưa thực hiện việc nộp phạt (nếu có) và nộp số lợi bất hợp pháp, thì
người có thẩm quyền xử phạt ban hành quyết định áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ
công trình, phần công trình xây dựng vi phạm theo quy định tại điểm
d khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP thay thế biện pháp buộc nộp
lại số lợi bất hợp pháp;
b) Hành vi vi
phạm được người có thẩm quyền phát hiện kể từ ngày 15/01/2018 thì xử phạt theo
quy định tại Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP. Trường
hợp Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP có mức phạt đối với
hành vi đó cao hơn mức phạt quy định tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP thì áp
dụng mức phạt quy định tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP và áp dụng biện pháp
buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm theo quy định tại điểm d khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP. Trường
hợp hết thời hiệu xử phạt thì không ra quyết định xử phạt hành chính nhưng vẫn
ra quyết định áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây
dựng vi phạm.
Điều
7. Điều khoản thi hành.
1. Thông tư này
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12 tháng 6 năm 2018, thay thế Thông tư số
02/2014/TT-BXD ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10
tháng 10 năm 2013 của Chính phủ xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây
dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây
dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở.
2. Các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách
nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng
mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Xây dựng để xem xét, giải quyết./.
PHỤ
LỤC
MỘT SỐ BIỂU MẪU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
(Ban hành kèm theo Thông tư số 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng)
(Ban hành kèm theo Thông tư số 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng)
TT
|
Mẫu
biểu
|
Nội
dung
|
1
|
Mẫu
số 01
|
Biên bản vi phạm hành chính
|
2
|
Mẫu
số 02
|
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
|
3
|
Mẫu
số 03
|
Thông báo về việc thực hiện biện pháp
buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm
|
4
|
Mẫu
số 04
|
Biên bản kiểm tra, ghi nhận sự phù
hợp của hiện trạng công trình xây dựng với giấy phép xây dựng được cấp hoặc
điều chỉnh
|
-
https://dangquocvinh.blogspot.com/2020/06/thong-tu-032018tt-bxd-ngay-24042018.html
Chúng tôi cám ơn bạn đã quan tâm và rất vui vì bài viết đã đem lại thông tin hữu ích cho bạn.

Trang chủ
All comments [ 0 ]
Your comments