> Luật Lâm Vinh Tư vấn pháp luật Bình Dương: Án lệ

Luật Lâm Vinh - Tư vấn luật miễn phí

M

Án lệ số 05/2016/AL


Án lệ số 05/2016/AL
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 39/2014/DS-GĐT ngày 09-10-2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế” tại Thành phố Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Xuân với bị đơn là ông Nguyễn Chí Trải (Cesar Trai Nguyen), chị Nguyễn Thị Thúy Phượng, bà Nguyễn Thị Bích Đào; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị Xê, Nguyễn Chí Đạt (Danforth Chi Nguyen), Nguyễn Thuần Lý, Nguyễn Thị Trinh, Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Thị Thúy Loan, Phạm Thị Liên, Phạm Thị Vui, Trần Đức Thuận, Trần Thành Khang.
Khái quát nội dung của án lệ:
Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng không đồng ý việc chia thừa kế (vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế), không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế; nếu Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Khoản 1 Điều 5 và Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004;
Từ khóa của án lệ:
“Yêu cầu khởi kiện”; “Yêu cầu phản tố”; “Công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 18-7-2008 và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Xuân trình bày: Cha mẹ các bà là cụ Nguyễn Văn Hưng (chết năm 1978), cụ Lê Thị Ngự (chết năm 1992) có 06 người con là bà Nguyễn Thị Xê, ông Nguyễn Chí Trải, bà Nguyễn Thị Xuân, bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Trinh và ông Nguyễn Chí Trai. Ông Trai có vợ là bà Ông Thị Mạnh và có 05 người con là anh Nguyễn Thuần Lý, anh Nguyễn Thuần Huy, chị Nguyễn Thị Quới Đường, anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1966) và anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1968). Tại Quyết định số 413/2008 ngày 31-3-2008, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố ông Trai, bà Mạnh, anh Thuần Huy, chị Quới Đường, anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1968) là đã chết.
Căn nhà số 263 đường Trần Bình Trọng, Phường 4, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh do cụ Hưng, cụ Ngự nhận chuyển nhượng đất của ông Đào Thành Phụng năm 1953, đến năm 1966 thì hai cụ xây dựng nhà ở như hiện nay. Nhà đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất, chỉ mới kê khai năm 1999. Cụ Hưng, cụ Ngự chết đều không để lại di chúc, căn nhà hiện nay do chị Nguyễn Thị Thúy Phượng là con ông Nguyễn Chí Trải đang quản lý. Quá trình quản lý, chị Phượng cho bà Nguyễn Thị Bích Đào thuê một phần căn nhà để làm lò bánh mì. Khi chị Phượng ở đây có sửa chữa nhà nhưng không đáng kể. Vợ chồng ông Trải không có đóng góp gì vào việc xây dựng và sửa chữa vì ông Trải đi cải tạo, còn bà Tư vợ ông Trải không có nghề nghiệp, con còn bé không có thu nhập để có tiền đóng góp. Nếu chị Phượng có chứng cứ chứng minh chi phí sửa chữa và yêu cầu thì các bà sẽ trả.
Các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế căn nhà này theo quy định của pháp luật và xin được nhận nhà, hoàn lại bằng tiền cho các thừa kế khác. Chị Phượng không thuộc diện thừa kế nên phải trả lại nhà, không đồng ý hỗ trợ chị Phượng đi nơi khác.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thúy Phượng trình bày: Chị thống nhất về quan hệ gia đình. Cha chị là ông Nguyễn Chí Trải, mẹ chị là bà Nguyễn Thị Tư có 03 người con gồm chị, anh Nguyễn Chí Đức, chị Nguyễn Thị Thúy Loan (anh Đức, chị Loan hiện sống ở Canada). Căn nhà số 263 đường Trần Bình Trọng là của ông bà nội chị mua từ năm 1953, khi đó là nhà ngói, vách ván. Năm 1955, cha chị kết hôn với mẹ chị và cha mẹ chị ở tại căn nhà này. Năm 1978 cha chị xuất cảnh sang Mỹ, mẹ chị chết năm 1980. Chị sống tại căn nhà này từ nhỏ đến nay, đã sửa chữa nhà nhiều lần như làm cửa nhôm, xây tường phần gác lửng, lát gạch men sân thượng, xây tường phía sau nhà. Chị có phần thừa kế của cha chị vì năm 2006 cha chị đã lập tờ cho đứt chị tài sản thừa kế ở Việt Nam nên chị được phần thừa kế mà cha chị được hưởng của cụ Hưng, cụ Ngự. Chị không đồng ý yêu cầu của các nguyên đơn, vì thời hiệu chia thừa kế đã hết, hiện tại chị và 02 con của chị đang sống tại căn nhà này. Chị có cho bà Nguyễn Thị Bích Đào thuê một phần nhà làm lò bánh mì, chị và bà Đào sẽ tự giải quyết với nhau về việc thuê nhà.
Bị đơn là ông Nguyễn Chí Trải trình bày: Tại văn bản ngày 14-10-2009, ông Trải có đơn đề nghị có nội dung ngày 25-4-2006 ông có giấy cho đứt tài sản thừa kế của ông cho chị Phượng được hưởng phần tài sản thừa kế mà ông được hưởng của cha mẹ tại Việt Nam, nay ông xin hủy bỏ văn bản trên và bằng văn bản này ông xin ủy quyền cho bà Thường, bà Xuân thay mặt ông tại Tòa án, khi Tòa xét xử xong phần tài sản thừa kế của ông xin được trao hết cho con trai ông là anh Nguyễn Chí Đức hiện cư trú tại Canada.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22-4-2010, ông Trải có Đơn tường trình nội dung ông không đồng ý chia thừa kế nhà 263 Trần Bình Trọng mà giao cho chị Phượng tiếp tục trông nom để ở, ông và vợ ông đã có công sức đóng góp tiền của vào căn nhà này. Nhưng đến ngày 14-7-2010, ông Trải lại có văn bản có nội dung ông cho con trai là anh Nguyễn Chí Đức phần tài sản ông được nhận thừa kế của cha mẹ. Ngày 11-3-2011, ông Trải có Tờ tường trình nội dung ông đồng ý với quyết định của Bản án sơ thẩm, ông không kháng cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Trinh (là con cụ Hưng, cụ Ngự) trình bày: Bà thống nhất như trình bày của các nguyên đơn về quan hệ gia đình và nguồn gốc tài sản. Năm 1966 nhà bị hư dột, cha mẹ bà có sửa lại nhà có sự đóng góp của các con trong đó có bà nhưng bà không yêu cầu phần bà đã đóng góp. Việc chị Phượng cho rằng cha mẹ chị và chị có đóng góp trong việc sửa chữa nhà là không đúng. Bà đề nghị kỷ phần thừa kế của bà giao cho bà Xuân, bà Thưởng quản lý; đề nghị bà Đào, chị Phượng trả lại nhà.
- Anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1966), anh Nguyễn Thuần Lý trình bày: Cha mẹ các anh là ông Nguyễn Chí Trai, bà Ông Thị Mạnh cùng 03 người em của các anh đều đã chết trên biển khi vượt biên vào năm 1982. Các anh đồng ý với ý kiến của nguyên đơn về việc chia thừa kế, xin được hưởng thừa kế tài sản của cụ Hưng, cụ Ngự và giao cho bà Thưởng, bà Xuân quản lý.
- Bà Nguyễn Thị Xê (là con của cụ Hưng, cụ Ngự) thống nhất với trình bày của các nguyên đơn về quan hệ gia đình và yêu cầu của các nguyên đơn, kỷ phần thừa kế bà được hưởng cho 02 con của bà là Phạm Thị Vui và Phạm Thị Liên.
- Lời khai của chị Nguyễn Thị Thúy Loan, anh Nguyễn Chí Đức theo giấy ủy quyền lập ngày 21-5-2007 (đã được hợp pháp hóa lãnh sự) thì chị Loan, anh Đức ủy quyền cho chị Phượng quyết định mọi sự việc liên quan đến những tranh chấp hay phân chia tài sản và nhà đất bên Việt Nam (Giấy ủy quyền này do chị Phượng xuất trình theo đơn của chị Phượng đề ngày 25-3-2011, sau khi xét xử sơ thẩm).
Chị Loan có đơn (kèm theo văn bản ủy quyền) có nội dung xin vắng mặt phiên tòa ngày 13-8-2009. Về tài sản tranh chấp cha mẹ chị có tiền đóng góp, còn các cô chú khác không đóng góp gì. Sau năm 1975, mọi người đi hết, chỉ còn mình chị Phượng ở với ông bà, đề nghị Tòa cho chị Phượng ở lại nhà đất tranh chấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3363/2009/DSST ngày 18-11-2009, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
- Xác định nhà đất tại 263 Trần Bình Trọng là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Hưng, cụ Lê Thị Ngự; mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng là 10.655.687.000: 6 = 1.775.947.800 đồng.
- Buộc mẹ con chị Phượng và bà Đào giao lại nhà đất tranh chấp cho bà Thưởng, bà Xuân. Bà Thường, bà Xuân có trách nhiệm trả cho các thừa kế khác bằng tiền mà họ được hưởng.
- Ghi nhận việc ông Nguyễn Chí Trải cho con là anh Nguyễn Chí Đức được nhận kỷ phần thừa kế của ông.
Ngày 30-11-2009, chị Nguyễn Thị Thúy Phượng có đơn kháng cáo có nội dung cho rằng cụ Hưng, cụ Ngự chết đã quá 10 năm nên thời hiệu khởi kiện về thừa kế không còn.
Ngày 15-3-2011, chị Phượng có đơn kháng cáo bổ sung nội dung:
- Cha chị là ông Trải không đồng ý chia và đồng ý cho chị quản lý căn nhà này. Các đồng thừa kế không có văn bản xác nhận nhà tranh chấp là tài sản chung chưa chia. Cha mẹ chị và các con trong đó có chị đã sống ổn định hơn 50 năm tại căn nhà này, đã bảo quản, giữ gìn căn nhà nhưng nay lại buộc mẹ con chị phải ra khỏi nhà là không thấu tình đạt lý.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 116/2011/DS-PT ngày 10-5-2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Ngày 16-6-2011, chị Nguyễn Thị Thúy Phượng có đơn đề nghị giám đốc thẩm Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định số 158/2014/KN-DS ngày 06-5-2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 3363/2009/DSST ngày 18-11-2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định:
Vợ chồng cụ Nguyễn Văn Hưng (chết năm 1978), cụ Lê Thị Ngự (chết năm 1992) có 06 người con gồm bà Nguyễn Thị Xê, ông Nguyễn Chí Trải, bà Nguyễn Thị Xuân, bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Trinh và ông Nguyễn Chí Trai. Vợ chồng ông Nguyễn Chí Trai, bà Ông Thị Mạnh có 05 người con là anh Nguyễn Thuần Lý, anh Nguyễn Thuần Huy, chị Nguyễn Thị Quới Đường, anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1966), anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1968). Ông Trai, bà Mạnh, anh Huy, chị Đường, anh Nguyễn Chí Đạt (sinh năm 1968) bị tuyên bố chết ngày 31-3-2008 theo Quyết định số 413/2008 ngày 31-3-2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Cụ Hưng, cụ Ngự chết đều không để lại di chúc. Các con của hai cụ và chị Phượng (con ông Trải) đều thừa nhận căn nhà số 263 đường Trần Bình Trọng, Phường 4, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh do cụ Hưng, cụ Ngự nhận chuyển nhượng của ông Đào Thành Phụng năm 1953 là tài sản của hai cụ tạo lập, hiện tại đang do chị Phượng quản lý, sử dụng.
Năm 2008, bà Xuân, bà Thưởng khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ Hưng, cụ Ngự để lại.
Các đương sự đều xác định ông Trải định cư tại Mỹ trước ngày 01-7-1991. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm căn cứ Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xác định thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản của cụ Hưng vẫn còn là có cơ sở. Đối với di sản của cụ Ngự thì đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, nhưng ông Trải và các đồng thừa kế của hai cụ đều thừa nhận di sản của cụ Ngự là tài sản chung của các thừa kế chưa chia và đều nhất trí chia đều cho các thừa kế. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm căn cứ tiểu mục a điểm 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình để chia phần di sản của cụ Ngự cho các thừa kế là có căn cứ.
Cụ Hưng chết năm 1978, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 thì ông Trải được hưởng 1/7 kỷ phần thừa kế của cụ Hưng. Phần tài sản ông Trải được hưởng của cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư. Bà Tư chết năm 1980, các thừa kế của bà Tư gồm ông Trải và 03 người con của ông Trải, bà Tư trong đó có chị Phượng. Như vậy, chị Phượng được hưởng một phần tài sản của mẹ là bà Tư, nhưng ông Trải đã định đoạt toàn bộ kỷ phần thừa kế mà ông được hưởng của cụ Hưng cho anh Đức là chưa đúng.
Chị Phượng sinh năm 1953 và các đương sự xác định chị Phượng ở tại nhà của ông, bà từ nhỏ đến nay. Từ năm 1982, chị Phượng đã là chủ hộ khẩu tại nhà đất này, cụ Ngự còn sống nhưng ở nơi khác, bà Thưởng chuyển hộ khẩu về tại đây từ năm 1979 nhưng không ở đây, nên chị Phượng đã trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất tranh chấp từ sau khi cụ Ngự chết đến nay. Các đương sự khác đều có nơi ở ổn định nơi khác. Khi chia thừa kế và tài sản chung, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét tạo điều kiện cho chị Phượng có chỗ ở mà buộc chị Phượng phải giao lại nhà cho các nguyên đơn trong đó có phần quyền tài sản chị Phượng được hưởng thừa kế của mẹ là bà Tư là chưa phù hợp.
Tuy chị Phượng không phải thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hưng, cụ Ngự, nhưng là cháu nội của hai cụ và có nhiều công sức quản lý, đã chi tiền sửa chữa nhà nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phượng không yêu cầu xem xét công sức vì chị Phượng cho rằng vụ án đã hết thời hiệu chia thừa kế, không đồng ý trả nhà đất cho các thừa kế. Như vậy, yêu cầu của chị Phượng đề nghị xác định quyền lợi là lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa xem xét công sức cho chị Phượng là giải quyết chưa triệt để yêu cầu của đương sự.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297, khoản 1, 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011;
QUYẾT ĐỊNH
Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 116/2011/DS-PT ngày 10-5-2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 3363/2009/DSST ngày 18-11-2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Xuân với bị đơn là chị Nguyễn Thị Thúy Phượng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“Cụ Hưng chết năm 1978, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 thì ông Trải được hưởng 1/7 kỷ phần thừa kế của cụ Hưng. Phần tài sản ông Trải được hưởng của cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư. Bà Tư chết năm 1980, các thừa kế của bà Tư gồm ông Trải và 03 người con của ông Trải, bà Tư trong đó có chị Phượng.
Tuy chị Phượng không phải thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hưng, cụ Ngự, nhưng là cháu nội của hai cụ và có nhiều công sức quản lý, đã chi tiền sửa chữa nhà nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phượng không yêu cầu xem xét công sức vì chị Phượng cho rằng vụ án đã hết thời hiệu chia thừa kế, không đồng ý trả nhà đất cho các thừa kế. Như vậy, yêu cầu của chị Phượng đề nghị xác định quyền lợi là lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa xem xét công sức cho chị Phượng là giải quyết chưa triệt để yêu cầu của đương sự.”

Bản án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

Bản án đòi tài sản là quyền sử dụng đất trồng rừng cho mượn

Bản án tranh chấp quyền sử dụng đất

Bản án tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho mượn

Bản án tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản do chiếm hữu sử dụng tài sản và được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

Án lệ tranh chấp đất đai

Quyết định giám đốc thẩm số 127/2013/DS-GĐT ngày 24/09/2013 về vụ án đòi lại tài sản


TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 127/2013/DS-GĐT NGÀY 24/09/2013 VỀ VỤ ÁN ĐÒI LẠI TÀI SẢN
Ngày 24/9/2013, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về đòi lại tài sản giữa:
Nguyên đơn:
Ông Nguyễn Văn Kỷ sinh năm 1928 và vợ là bà Ngô Thị Mai sinh năm 1929; định cư tại Mỹ (địa chỉ: số 8588 Park Run Rd, San Diego, California, USA); ủy quyền cho ông Phạm Xuân Thu (trú tại nhà số 43C/5 khu phố 2, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) đại diện.
Bị đơn:
1. Bà Trần Thị Dung sinh năm 1935 (chết ngày 20/02/2010);
2. Anh Ngô Tiến Dũng sinh năm 1964;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Đào Thị Thu sinh năm 1971;
(Bà Dung, anh Dũng, chị Thu đều trú tại nhà số 330/14/43 khu phố 5, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
NHẬN THẤY
Tại Đơn khởi kiện ngày 20/6/2008 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Kỷ, bà Ngô Thị Mai (do ông Phạm Xuân Thu đại diện theo ủy quyền) trình bày:
Trước năm 1990, ông Kỷ, bà Mai tạo lập được một căn nhà cấp 4 tường gạch, mái lợp tôn, nền láng xi măng trên diện tích 639,9m2 đất (nay có địa chỉ là số nhà 330/14/43 khu phố 5, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
Năm 1990, ông Kỷ, bà Mai sang định cư tại Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình. Trước khi xuất cảnh, ông Kỷ, bà Mai đã lập giấy tờ ủy quyền cho ông Ngô Văn Biểu (em ruột của bà Mai) trông coi quản lý nhà đất nêu trên.
Sau khi ông Kỷ, bà Mai xuất cảnh, ông Biểu là người trực tiếp quản lý, trông coi nhà đất. Ngày 06/01/1996, ông Biểu đã lập văn bản cam kết sẽ hoàn trả nhà đất cho ông Kỷ, bà Mai khi ông bà có yêu cầu. Năm 2002, ông Kỷ, bà Mai có ý định hồi hương nên ngày 01/3/2002, ông Biểu đã làm giấy hoàn trả nhà đất cho ông Kỷ, bà Mai. Cũng trong thời gian này, ông Biểu bị bệnh nặng nên vợ chồng anh Ngô Tiến Dũng (con của ông Biểu), chị Đào Thị Thu đã chuyển về sống cùng ông Biểu tại căn nhà nêu trên để chăm sóc ông Biểu. Ngày 07/01/2003, ông Biểu chết. Sau khi ông Biểu chết thì bà Trần Thị Dung (vợ của ông Biểu) và vợ chồng anh Dũng, chị Thu là những người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất của ông Kỷ, bà Mai. Năm 2006, vợ chồng anh Dũng phá bỏ căn nhà cũ, xây nhà mới.
Nay ông Kỷ, bà Mai bà yêu cầu bà Dung và vợ chồng anh Dũng, chị Thu phải trả lại quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất qua đo đạc thực tế là 649 m2. Sau khi nhận lại đất, ông bà sẽ giải quyết quyền lợi cho bà Dung và vợ chồng anh Dũng trên cơ sở tình cảm trong gia tộc.
Đồng bị đơn là bà Trần Thị Dung (do anh Ngô Tiến Dũng đại diện theo ủy quyền) và anh Ngô Tiến Dũng trình bày:
Nhà đất tranh chấp đúng là có nguồn gốc là của ông Kỷ, bà Mai, nhưng năm 1990, trước khi xuất cảnh, ông Kỷ, bà Mai đã làm văn bản ủy quyền cho ông Biểu, bà Dung được sở hữu nhà đất trên theo đúng thủ tục pháp luật quy định. Thực chất đó là sự trao đổi quyền lợi giữa hai gia đình, vì cùng thời điểm này, ông Kỷ, bà Mai đã chuyển nhượng thửa đất của ông Biểu, bà Dung (liền kề với nhà đất của ông Kỷ, bà Mai) cho Nhà dòng Nữ tỳ Thánh Thể được 3 cây vàng để lo chi phí xuất cảnh. Ngày 24/4/1990, ông Biểu, bà Dung đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở.
Ông Biểu, bà Dung và vợ chồng anh Dũng đã quản lý, sử dụng nhà đất ổn định, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của chủ sử dụng đất đối với nhà nước. Bà Dung và vợ chồng anh Dũng hoàn toàn không biết việc ông Biểu lập văn bản cam kết trả lại nhà đất cho ông Kỷ, bà Mai. Năm 2006, do căn nhà cũ xuống cấp nghiêm trọng, không thể sử dụng được nữa, nên vợ chồng anh Dũng đã đầu tư tổng cộng 370.000.000 đồng để sửa chữa lại toàn bộ căn nhà; khi đó ông Kỷ, bà Mai có biết nhưng không có ý kiến gì. Bà Dung, anh Dũng không chấp nhận yêu cầu của ông Kỷ, bà Mai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đào Thị Thu thống nhất với trình bày và quan điểm của anh Dũng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2009/DSST ngày 14/7/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:
Buộc bà Trần Thị Dung phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 1.590.050.000 đồng cho ông Nguyễn Văn Kỷ, bà Ngô Thị Mai.
Bà Trần Thị Dung được quyền sử dụng 649m2 đất tại thửa số 129, tờ bản đồ số 14, khu phố 5, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất số 1436/2009 ngày 07/4/2009 của Trung tâm kỹ thuật địa chính nhà đất tỉnh Đồng Nai). Bà Dung liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xin cấp quyền sử dụng đất theo quy định.
Ngày 24/7/2009, ông Nguyễn Văn Kỷ, bà Ngô Thị Mai có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 70/2010/DSPT ngày 08/4/2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định sửa bản án sơ thẩm:
Buộc bà Trần Thị Dung và anh Ngô Tiến Dũng có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Văn Kỷ, bà Ngô Thị Mai số tiền 3.180.100.000 đồng. Sau khi bà Dung, anh Dũng thanh toán xong số tiền trên thì được quyền làm các thủ tục để xin cấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa số 129, tờ bản đồ số 14, khu phố 5, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 27/8/2010, anh Ngô Tiến Dũng cùng với những người con khác của bà Trần Thị Dung, ông Ngô Văn Biểu là chị Ngô Thị Tuyết, anh Ngô Tấn Tài, anh Ngô Thời Nhiệm, anh Ngô Trọng Nghĩa và chị Ngô Thị Ánh Hồng có đơn đề nghị giám đốc thẩm, cho rằng Tòa án cấp phúc thẩm vi phạm về thủ tục tố tụng và việc giải quyết về nội dung vụ án cũng không đúng với sự thật khách quan.
Tại Quyết định số 98/2013/KN-DS ngày 15/3/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định:
Kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 70/2010/DSPT ngày 08/4/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh;
Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2009/DSST ngày 14/7/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
XÉT THẤY
1/ Về việc giải quyết nội dung quan hệ pháp luật có tranh chấp:
Căn cứ vào “Đơn xin ủy quyền nhà” ngày 26/02/1990, “Đơn xin cấp giấy chứng nhận không nhà đất” ngày 01/3/1990 của ông Kỷ, bà Mai, “Giấy xác nhận lời cam kết về tài sản” (được công chứng cùng ngày 08/01/1996) và “Đăng ký nhà ở và đất ở” ngày 24/01/2000, “Giấy hoàn trả tài sản” của ông Biểu (được Ủy ban nhân dân phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 10/4/2002) thì có đủ cơ sở xác định trước khi xuất cảnh sang Mỹ, vợ chồng ông Nguyễn Văn Kỷ, bà Ngô Thị Mai chỉ ủy quyền cho ông Ngô Văn Biểu, bà Trần Thị Dung đứng tên sở hữu căn nhà.
Bà Dung, anh Dũng cho rằng ông Kỷ, bà Mai đã chuyển nhượng thửa đất thuộc quyền sử dụng của ông Biểu, bà Dung lấy 3 cây vàng để lo chi phí xuất cảnh, nên việc ông Kỷ, bà Mai làm giấy tờ ủy quyền cho ông Biểu, bà Dung sở hữu căn nhà của ông Kỷ, bà Mai thực chất là sự trao đổi quyền lợi giữa hai gia đình nhưng bà Dung, anh Dũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh. Hơn nữa, cũng không có căn cứ xác định ông Kỷ, bà Mai đã tặng cho ông Biểu, bà Dung căn nhà.
Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm buộc phía bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn giá trị quyền sử dụng toàn bộ thửa đất là có căn cứ. Tuy nhiên, ông Biểu, sau đó là bà Dung và vợ chồng anh Dũng, chị Thu đã có công quản lý, gìn giữ tài sản nhà đất của ông Kỷ, bà Mai trong một thời gian dài, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của chủ sử dụng đất đối với nhà nước. Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét công sức của ông Biểu, bà Dung và vợ chồng anh Dũng trong việc quản lý, gìn giữ quyền sử dụng diện tích đất của ông Kỷ, bà Mai là chưa đảm bảo quyền lợi của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
2/ Về thủ tục tố tụng:
Ông Biểu chết năm 2003. Khi xảy ra tranh chấp, bà Dung ủy quyền cho anh Dũng đại diện tham gia tố tụng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 20/02/2010 thì bà Dung chết. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa đầy đủ những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Biểu vào tham gia tố tụng, còn Tòa án cấp phúc thẩm vẫn xác định bà Dung là bị đơn (do anh Dũng đại diện theo ủy quyền), mà không đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Dung vào tham gia tố tụng đều là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ khoản 3 Điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH
1- Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 70/2010/DS-PT ngày 08/04/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2009/DS-ST ngày 14/07/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về vụ án “Đòi lại tài sản” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Kỷ, bà Ngô Thị Mai với các bị đơn là bà Trần Thị Dung và anh Ngô Tiến Dũng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đào Thị Thu.
2- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
NỘI DUNG DỰ KIẾN ĐỀ XUẤT CÔNG NHẬN LÀM ÁN LỆ
Trong Quyết định giám đốc thẩm đã chỉ ra vấn đề pháp lý có giá trị hướng dẫn xét xử là:
Khi giải quyết các tranh chấp về đòi lại tài sản, trường hợp Tòa án giải quyết buộc người đang quản lý, sử dụng tài sản phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người có quyền sử dụng tài sản (trả bằng hiện vật hoặc giá trị) thì phải xem xét công sức trong việc quản lý, gìn giữ tài sản của những người tham gia vào việc quản lý, gìn giữ tài sản đó.
Cụ thể, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã nhận định:
“Ông Biểu, sau đó là bà Dung và vợ chồng anh Dũng, chị Thu đã có công quản lý, gìn giữ tài sản nhà đất của ông Kỷ, bà Mai trong một thời gian dài, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của chủ sử dụng đất đối với nhà nước. Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét công sức của ông Biểu, bà Dung và vợ chồng anh Dũng trong việc quản lý, gìn giữ quyền sử dụng diện tích đất của ông Kỷ, bà Mai là chưa đảm bảo quyền lợi của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”

Quyết định giám đốc thẩm sô 50/2014/DS-GĐT ngày 20/02/2014 về tranh chấp kiện đòi tài sản


TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 50/2014/DS-GĐT NGÀY 20/02/2014 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI TÀI SẢN
Họp phiên toà ngày 20/02/2014 tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao để xét xử giám đổc thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản” giữa:
* Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Phiến, sinh năm 1947; cư trú tại tổ 3, khu 2, phường Đại Yên, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
* Bị đơn: Ông Lê Xuân Hùng, sinh năm 1956; cư trú tại tổ 3, khu 6b, phường Đại Yên, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
* Người có quyền lơi nghĩa vu liên quan: Bà Lê Thị Y, sinh năm 1958; cư trú tại tổ 3, khu 6b, phường Đại Yên, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Theo Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 151/2013/KN-DS ngày 18/12/2013 của Viện trưởng -Viện kiếm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sư phúc thẩm số 21/2012/DSPT ngày 06/8/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
NHẬN THẤY                                       Đơn khởi kiện ngày 06/5/2010 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguy( đơn là bà Vũ Thị Phiến trình bày: Năm 1981 ông Lê Xuân Quốc và bà Vũ Thí Phiến được xí nghiệp đá Yên Cư cấp 02 gian nhà tập thể cấp 4 nằm trên diện tích 400m2 đất. Sau khi ở gia đình bà khai hoang thêm 200m2 đất (liền kề) tọa lạc tại xã Đại Yên, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Năm 2001, ông Quốc chết nên toàn bộ nhà và diện tích đất trên do bà Phiến và các con quản lý (BL86). Tháng 2/1993, ông Lê Xuân Hùng hỏi ông Quốc mượn một phần đất (thuộc phần 200m2 đất gia đình khai hoang thêm) để xây quán. Tháng 3/2005, anh Thanh (em vợ ông Hùng) mượn thêm 60m2 của gia đình bà để làm kho chứa vật liệu xây dựng, sau này anh Hùng đã sử dụng thêm cả phần diện tích anh Thanh trả với tổng diện tích là 187m2. Năm 2005 Nhà nước đã cấp Giấy CNQSD đất ở cho ông Quốc và bà Phiến tổng diện tích 610,2m2 trong đó có 2.00m2 đất khai hoang thêm. Nay bà Phiến yêu cầu ông Hùng phải trả lại phần diện tích 187m2 đất nói trên.
Bị đơn là ông Lê Xuân Hùng trình bày: Năm 1993 ông Quốc, bà Phiến đã bán cho ông Hùng hơn 100m2 đất liền kề với giá 10.000.000 đồng. Ông Hùng nhận đất làm nhà tạm. Năm 2004 bà Phiến đổi l,5m móng nhà để anh Khánh (con trai bà Phiến) làm nhà và bà Phiến trả lại đất phía sau, đồng thời bà Phiến cũng đổi lại cho ông Hùng một góc đất nhà tắm gia đình bà mua của ông Thuận, bà Cậy (việc đổi đất giữa ba gia đình trên đây có giấy viết tay). Năm 2005, ông Hùng xây dựng nhà, nên giấy tờ chuyển nhượng đất bị thất lạc. Khi xảy ra tranh chấp năm 2009 ông Hùng mới biết ông Quốc, bà Phiến được cấp giấy chứng chứng nhận quyền sử dụng đất bao trùm cả phần đất của ông Hùng, nên ông Hùng không đồng ý trả lại đất cho bà Phiến.
Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2011/DS-ST ngày 22/3/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh quyết định:
Buộc anh Lê Xuân Hùng và chị Lê Thị Y phải trả lại cho bà Vũ Thị Phiến diện tích 188,7m2, tại tỏ 3 khu 2, phường Đại Yên, thành pho Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, đất có ranh giới: Phía Đông (rộng 7,83m) giáp đất nhà bà Phiến, phía Tây giáp đường đi (rộng 5,47m), phía Nam (dài 29,97m) giáp nhà bà Vũ Thị Phiến, phía Bắc (dài 27,42m) giáp nhà ông Nguyễn Đức Thuận và ông Bùi Đình Hảo. Giao cho bà Phiến sở hữu ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ diện tích 67,1m2 trên diện tích 188,7m đất tại tổ 3, khu 2, phường Đại Yên, thành phố Hạ Long. Bà Phiến phải thanh toán giá trị tài sản trên đất cho anh Hùng và chị Y với số tiền là 52.841.250 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 01/4/2011, ông Lê Xuân Hùng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Bản án dân sự phúc thẩm số 21/2012/DSPT ngày 06/08/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh quyết định: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2011/DSST ngày 22/03/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long và đình chỉ giải quyết vụ án; trả lại đơn khởi kiện cùng các tài liệu đã giao nộp khỉ khởi kiện cho bà Vũ Thị Phiến.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.
Ngày 22/1/2013, chị Lê Thị Liễu đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xem xét bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại Quyết định số 151/2013/KN-DS ngày 18/12/2012, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 21/2012/DSPT ngày 06/8/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Đề nghị Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sựphúc thẩm nêu trên và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 01/2011/DSST ngày 22/3/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm theo qui định của pháp luật
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị nêu trên.
XÉT THẤY
Xét về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn xác định cho bị đơn mượn đất để sử dụng tạm thời, bị đơn xác định nhận chuyển nhượng đất của nguyên đơn nhưng giấy tờ bị thất lạc. Tòa án cấp sơ thẩm xác định mối quan hệ pháp luật “kiện đòi tài sản” là không đúng mà phải xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” như Tòa án cấp phúc thẩm xác định mới đúng.
Xét về diện tích đất tranh chấp: Các đương sự trong vụ án đều xác định diện tích 187m2 đất tranh chấp có nguồn gốc 200m2 đất do nguyên đơn khai hoang. Giấy CNQSD đất số AB145473 do UBND thành phố Hạ Long cấp ngày 26/01/2005 cho ông Lê Xuân Quốc và bà Vũ Thị Phiến là chủ sử dụng diện tích 610,2m2 đất ở (bao gồm 200m2 đất khai hoang thêm) tại thửa số 7, tờ bản đồ số 52 tổ 3 xã Đại Yên, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (BL 131).
Xét việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB145473: ông Lê Xuân Quốc chết ngày 20/5/2001, nhưng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 26/01/2005 vẫn ghi tên ông Quốc và bà Phiến là không chính xác về chủ sử dụng đất. Ngày 8/12/2011, ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long ra Quyết định số 3291/QĐ-ƯBND thu hồi, hủy bỏ quyết định cấp Giấy sổ 50/QĐ-UB ngày 21/5/2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 8516 ngày 26/01/2005 có nội dung: “Do sơ xuất trong việc xác minh đứng tên chủ sử dụng đắt thời diêm lập hồ sơ xin cấp Giấy năm 2005 và đã được ủy ban nhân dân thành pho Hạ Long cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Lê Xuân Quôc đã chêt. PhòngTài nguyên môi trường chủ trì cùng ủy ban nhân dân xã Đại Yên hướng dẫn cho gia đình bà Vũ Thị Phiến và các con (thuộc hàng thừa kế thứ nhất) hoàn thiện thủ tục phân chia di sản và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình tại thửa đất số 97 tờ bản đồ số 52, thuộc tổ 3, khu 2 phường Đại Yên... ” (BL 86, 222). Theo nội dung Quyết định, phần diện tích đất ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 8516 ngày 26/01/2005 không thay đổi, ngoài phần chủ sử dụng đất là bà Vũ Thị Phiến ra chỉ có sự thay đổi về phần chủ sử dụng đất do ông Lê Xuân Quốc đã chết. Các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn bà Phiến và các thừa kế (phần tài sản của ông Quốc) làm các thủ tục để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, trường họp bà Phiến tranh chấp về quyền sử dụng đối với diện tích đất nói trên với ông Lê Xuân Hùng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng diện tích đất tranh chấp không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 Điều 50 Luật đất đai, từ đó đình chỉ giải quyết vụ án trả lại lại đon khởi kiện là không đúng.
Bởi các lẽ trên,
Căn cứ khoản 2 Điều 291; khoản 3 Điều 297; Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 151/2013/KN-DS ngày 18/12/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 21/2012/DSPT ngày 06/8/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn Vũ Thị Phiến với bị đơn Lê Xuân Hùng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.


Án lệ số 26/2018/AL về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản


Án lệ số 26/2018/AL về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông quangày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 06/2017/DS-GĐT ngày 27-3-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “tranh chấp thừa kế tài sản và chia tài sản chung” ở Hà Nội giữa nguyên đơn là ông Cấn Xuân V, bà Cấn Thị N1, bà Cấn Thị T1, bà Cấn Thị H, ông Cấn Xuân T, bà Cấn Thị N2, bà Cấn Thị M1. Người đại diện cho các đồng nguyên đơn là bà Cấn Thị N2 và bị đơn là cụ Nguyễn Thị L, ông Cấn Anh C. Người đại diện cho các đồng bị đơn theo ủy quyền là ông Lê Hồng L. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 07 người.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 5, 6, 7 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung án lệ:
- Tình huống án lệ:
Người để lại di sản thừa kế là bất động sản chết trước ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế ngày 30-8-1990. Tại thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm, Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 đang có hiệu lực pháp luật.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, phải xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế ngày 30-8-1990. Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990.
Từ khóa của án lệ:
“Chia di sản thừa kế”; “Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế”; “Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02-11-2010 và quá trình tố tụng, đại diện các nguyên đơn là bà Cấn Thị N2 trình bày: Cụ Cấn Văn K và cụ Hoàng Thị T sinh được 8 người con gồm các ông, bà: Cấn Xuân V, Cấn Thị N1, Cấn Thị N2, Cấn Thị M1, Cấn Thị T1, Cấn Thị H, Cấn Xuân T, Cấn Văn S (chết năm 2008) có vợ là bà Nguyễn Thị M và hai con là Cấn Thùy L và Cấn Hoàng K.
Năm 1972 cụ T chết. Năm 1973, cụ K kết hôn với cụ Nguyễn Thị L sinh được 4 người con là các ông, bà: Cấn Thị C, Cấn Thị M2, Cấn Anh C và Cấn Thị T2.
Sinh thời cụ K, cụ T tạo lập được 612m2 đất, trên đất có 2 căn nhà 3 gian, tọa lạc tại thôn T, xã P, huyện Th, thành phố Hà Nội, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002 đứng tên hộ cụ Cấn Văn K. Sau khi cụ T chết, toàn bộ nhà đất nêu trên do cụ K và cụ L quản lý. Năm 2002 cụ K chết, khối tài sản này do cụ L và ông Cấn Anh C quản lý.
Cụ K và cụ T chết không để lại di chúc. Nay các đồng nguyên đơn là con cụ K với cụ T khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của cụ T và chia di sản thừa kế của cụ K theo quy định của pháp luật, trong đó bà N1, bà N2, bà M1, bà T1, bà H, ông T, bà C và bà Nguyễn Thị M (vợ ông S) đề nghị kỷ phần ông, bà được hưởng giao lại cho ông V làm nơi thờ cúng cha mẹ, tổ tiên.
Bị đơn là cụ Nguyễn Thị L và ông Cấn Anh C trình bày:Vquan hệ huyết thống và di sản thừa kế như nguyên đơn trình bày là đúng. Cụ L thừa nhận trước khi kết hôn với nhau, cụ K đã có các tài sản là 3 gian nhà cấp 4 lợp rạ và 3 gian bếp trên diện tích đất 612m2. Quá trình quản lý, sử dụng, vợ chồng cụ có cải tạo và xây dựng lại một số công trình phụ, tường bao như hiện nay. Năm 2002, Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ cụ Cấn Văn K. Thời điểm này hộ cụ K có 06 người gồm: Cụ K, cụ L, ông T, bà M2, bà T2 và ông C. Nay các nguyên đơn khởi kiện, cụ L và ông C đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Cấn Thị C, bà Cấn Thị T2, bà Cấn Thị M2, bà Nguyễn Thị M, bà Lê Thị H thừa nhận quan hệ huyết thống như nguyên đơn, bị đơn khai và đề nghị giải quyết theo pháp luật. Nếu yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, kỷ phần của bà Nguyễn Thị M, bà C giao lại cho ông V; kỷ phần của bà M2 để lại cho ông C; bà T2 xin được nhận kỷ phần của mình.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2012/DS-ST ngày 20-7-2012, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cấn Xuân V, bà Cấn Thị N1, bà Cấn Thị T1, bà Cấn Thị H, ông Cấn Xuân T, bà Cấn Thị N2, bà Cấn Thị M1:
Cụ thể: Xác nhận khối tài chung gồm nhà cấp 4, nhà thờ, bếp, sân gạch, tường bao, lán lợp xi măng, nhà tắm, bình inox, tường bao trên diện tích đất 612m3 tại thôn T, xã P, huyện Th, thành phố Hà Nội có trị giá 1.565.504.366 đồng trong đó phần tài sản của cụ K + cụ T có trị giá 1.536.331.972 đồng, phần tài sản của cụ K+ cụ L phát triển có trị giá 21.338.977 đồng, tài sản vợ chồng ông C, bà H phát triển có trị giá 7.833.417 đồng.
Cụ T chết năm 1972, chia tài sản chung của cụ T cho các con là ông V, bà N2, bà T1, bà H, ông T, bà N1, bà M1 và ông S mỗi người được hưởng 96.020.748 đồng, ông S đã chết nên phần của ông S do vợ là bà Nguyễn Thị M và 02 con là cháu L cháu K hưởng.
Cụ K chết năm 2002 hàng thừa kế thứ nhất của cụ K là ông V, bà N2, bà T, bà H, ông T, bà N1, bà M1 và ông S đã chết nên phần ông S do vợ ông S là bà Nguyễn Thị M và hai con là cháu L và cháu K hưởng, cụ L, ông C, bà C, bà M2, bà T2 mỗi người được hưởng 30.365.575 đồng.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà N2, bà N1, bà T1, bà H, ông T, bà C, bà M1 và bà Nguyễn Thị M vợ ông S cho ông V tài sản.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà M2 cho ông C tài sản.
Chia hiện vật cụ thể:
Giao ông Cấn Xuân V sở hữu 03 gian nhà ngoài 31,4m2= 4.435.233 đồng, sân gạch = 1.456.475 đồng, tường bao xung quanh 27,63m2 = 810.488 đồng, tường bao nhà tắm hết giá trị sử dụng, tường gạch 242.804 đồng, tường hoa trước nhà thờ hết giá trị sử dụng, giếng khoan hết giá trị sử dụng, nhà cấp 4 (nhà thờ) và hiên trước nhà = 5.678.736 đồng, bếp = 3.696.503 đồng, nhà tắm 4.114.332 đồng; bình nước inox x 2m3 = 2.000.000 đồng, 02 bể nước hết giá trị sử dụng, mái tôn lợp trên sân gạch = 1.719.085 đồng, nhà chăn nuôi hết giá trị sử dụng, cổng hết giá trị sử dụng, cây cối: 01 cây na, 01 cây xoài, 01 cây bưởi = 470.000 đồng gắn với quyền sử dụng 367,1m2 đất = 917.750.000 đồng. Tổng cộng = 942.656.000 đồng, phần tài sản được hưởng 1.041.456.159 đồng, ông V còn được nhận tiền tài sản chênh lệch ở cụ L là 99.032.460 đồng. Phần tài sản ông V được hưởng 1.041.456.000đ (có sơ đồ kèm theo).
Giao cụ Nguyễn Thị L, vợ chồng ông Cấn Anh C, bà Cấn Thị M2, bà Cấn Thị T2 sở hữu 01 gian buồng 13.3m2 = 1.896.739 đồng, tường bao = 1.934.843 đồng, tường gạch = 666.841 đồng, sân gạch = 400.000 đồng, lán lợp xi măng =1.462.287 đồng, cây cối = 4.470.000 đồng gắn liền với việc sử dụng 244,9m2 đất = 612.250.000 đồng, tổng trị giá = 623.080.710 đồng, phần tài sản được hưởng 524.048.198 đồng. Cụ L và ông C phải thanh toán cho bà T2 30,365.575 đồng và phải thanh toán chênh lệch tài sản cho ông V là 99.032.503 đồng, cụ L phải tự mở cửa nhà và tự mở lối đi trên đất của mình.
Vì kèo gian buồng giữa ông V và mẹ con cụ L là vì kèo chung, ai dỡ nhà trước phải để lại cho phía bên kia.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần án phí.
Ngày 13-8-2012, cụ L và ông C kháng cáo.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 106/2013/DS-PT ngày 17-6-2013, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định:
Chấp nhận kháng cáo của các bị đơn, sửa bản án sơ thẩm,
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cấn Xuân V, bà Cấn Thị N1, bà Cấn Thị T1, bà Cấn Thị H, ông Cấn Xuân T, bà Cấn Thị N2, bà Cấn Thị M1.
Cụ thể: Xác nhận khối tài sản chung gồm nhà cấp 4, nhà thờ, bếp, sân gạch, tường bao, lán lợp xi măng, nhà tắm, bình inox, tường bao trên diện tích đất 612m2 tại thôn T, xã P, huyện Th, Hà Nội có trị giá 1.565.504.366 đồng, trong đó phần tài sản của cụ K cụ T có trị giá 1.536.331.972 đồng, phần tài sản của cụ K và cụ L phát triển có trị giá 21.338.977 đồng, tài sản của vợ chồng ông C, bà H phát triển có trị giá 7.833.417 đồng.
Cụ T chết năm 1972, thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế đã hết. Có đồng thừa kế không thống nhất xác định di sản của cụ T để lại là tài sản chung chưa chia, nên không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc chia di sản của cụ T để lại như chia tài sản chung cho 8 người con của cụ T. Do đã hết thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, nên những người đồng thừa kế đang quản lý di sản là cụ Nguyễn Thị L và ông Cấn Anh C được tiếp tục quản lý sử dụng và sở hữu.
Cụ K chết năm 2002, hàng thừa kế thứ nhất của cụ K có 13 người gồm: cụ L, ông V, bà N2, bà T1, bà H, ông T, bà N1, bà M1, ông S đã chết nên phần ông S do vợ ông S là bà Nguyễn Thị M và hai con là cháu L, cháu K hưởng, ông C, bà C, bà M2 mỗi người được hưởng một phần bằng nhau quy thành tiền là 30.365.575 đồng.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà N2, bà N1, bà T1, bà H, ông T, bà C, bà M1 và bà Nguyễn Thị M (vợ ông S) cho ông V tài sản.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà M2 cho ông C tài sản.
Chia hiện vật cụ thể:
Giao cho ông Cấn Xuân V phần diện tích đất có nhà thờ được chia bởi một đường thẳng cắt ngang thửa đất, trùng với mép ngoài đầu hồi nhà chính (có sơ đồ kèm theo). Phần diện tích ông V được chia (bên có nhà thờ) có tổng diện tích là 218,2m2 (trong đó 100m2 đất ở và 118,2m2 đất vườn, có thời hạn sử dụng 50 năm), thành tiền là 545.500.000 đồng và các tài sản trên đất gồm: nhà thờ và diện tích hiên trước nhà thờ trị giá là: 5.300.888 đồng + 377.848 đồng = 5.678.736 đồng; bếp trị giá là: 3.696.503 đồng; nhà tắm trị giá là 4.114.332 đồng; téc Inox dung tích 2m3 trị giá là 2.000.000 đồng; 02 bể nước hết giá trị sử dụng. Tổng cộng trị giá tài sản trên đất là 15.489.571 đồng. Tổng cộng trị giá phần tài sản trên đất và đất ông V được chia là: 560.989.571 đồng.
Ông Cấn Xuân V không phải thanh toán phần tài sản chênh lệch trị giá 287.699.396 đồng cho cụ L và ông C.
Giao toàn bộ diện tích 393,8m2 đất (trong đó 200m2 đất ở có thời hạn sử dụng lâu dài và193,8m2 đất vườn, có thời hạn sử dụng 50 năm), và toàn bộ tài sản trên đất còn lại cho cụ Nguyễn Thị L và ông Cấn Anh C sở hữu và sử dụng. Cụ L và ông C có trách nhiệm thanh toán cho bà Cấn Thị T2 trị giá phần thừa kế được hưởng là 30.365.575 đồng. Cụ Nguyễn Thị L và ông Cấn Anh C phải tự mở lối đi mới ra ngõ chung của xóm.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về phần án phí.
Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 05-4-2014, bà Cấn Thị N2 đại diện các nguyên đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định số 73/2016/KN-DS ngày 15-6-2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 106/2013/DS-PT ngày 17-6-2013 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2012/DS-ST ngày 20-7-2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Cụ Cấn Văn K và cụ Hoàng Thị T có 08 người con gồm các ông bà: Cấn Xuân V, Cấn Thị N1, Cấn Thị T1, Cấn Thị H, Cấn Xuân T, Cấn Thị N2, Cấn Thị M1, Cấn Văn S (chết năm 2008, ông S có vợ là bà Nguyễn Thị M và hai con là Cấn Thùy L, Cấn Hoàng K).
[2] Vợ chồng cụ K, cụ T tạo lập được khối tài sản gồm nhà cấp 4, bếp, nhà tắm và các công trình khác, cây cối trên diện tích đất 612m2, thửa số 120, tờ bản đồ số 11, tại thôn T, xã P, huyện Th, thành phố Hà Nội. Năm 1972 cụ T chết. Năm 1973 cụ K kết hôn với cụ Nguyễn Thị L và có 04 người con gồm các ông, bà: Cấn Thị C, Cấn Thị M2, Cấn Thị T2 và Cấn Anh C. Năm 2002 phần đất trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ cụ Cấn Văn K. Cuối năm 2002 cụ K chết, khối tài sản do cụ L và ông Cấn Anh C quản lý, sử dụng. Các đồng nguyên đơn là các con của cụ K với cụ T yêu cầu chia tài sản chung của mẹ là cụ T và chia di sản thừa kế của cụ K để lại theo quy định của pháp luật. Như vậy, hàng thừa kế thứ nhất của cụ T có 09 người gồm 08 người con và chồng là cụ K. Năm 2002, cụ K chết, phần di sản của cụ K được hưởng từ di sản của cụ T được chuyển tiếp cho cụ L và các con chung của cụ K và cụ L được hưởng.
[3] Tại thời điểm các đồng nguyên đơn khởi kiện (tháng 11-2010) cụ K và ông Cấn Văn S đã chết, các thừa kế của cụ K và ông S được hưởng thừa kế chuyển tiếp đối với di sản mà cụ K, ông S được hưởng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tại thời điểm các đương sự khởi kiện (tháng 11-2010) là đã hết thời hiệu để chia thừa kế của cụ T, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản của cụ T để lại là tài sản chung chưa chia và tuyên chia cho 08 người con của cụ T là không đúng theo quy định tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vì cụ L, ông C (con cụ K) không thừa nhận tài sản đang tranh chấp là di sản của cụ T chưa chia.
[4] Tòa án cấp phúc thẩm xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế của cụ T đã hết và không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc chia tài sản chung đối với phần di sản của cụ T là đúng (theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao), nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại tuyên cho các đồng thừa kế đang quản lý các di sản của cụ T là cụ L và ông C được tiếp tục quản lý, sử dụng và sở hữu là không đúng.
[5] Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2017), thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.
[6] Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự này có hiệu lực, thì thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này.
[7] Như vậy kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định thời hiệu đối với trường hợp mở thừa kế trước ngày 01-01-2017. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990 và Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp này thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ T cho các đồng thừa kế vẫn còn theo quy định của pháp luật.
[8] Mặt khác, nguyện vọng của các nguyên đơn thể hiện tại biên bản lấy lời khai ngày 22-12-2010 của bà Cấn Thị N2 (BL63), bà Cấn Thị N1 (BL69), bà Cấn Thị T1 (BL75), bà Cấn Thị H (BL78), bà Cấn Thị M1 (BL61) yêu cầu Tòa án chia di sản của bố mẹ để lại theo quy định của pháp luật, bản thân các bà là con gái đã đi lấy chồng, nên phần di sản các bà được chia, các bà giao lại cho ông V để ông V làm nơi thờ cúng tổ tiên; ông Cấn Xuân Tthể hiện tại biên bản lấy lời khai ngày 22-10-2010 (BL73) đề nghị Tòa án chia di sản của cha mẹ theo quy định của pháp luật để anh em ông làm nơi thờ cúng cha mẹ, tổ tiên; bà Nguyễn Thị M (BL65) yêu cầu phần di sản chồng bà được chia, mẹ con bà xin giao lại cho ông V để ông V làm nơi thờ cúng tổ tiên. Tuy nhiên, quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm lại tuyên công nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn cho ông V tài sản là không đúng ý chí của các đương sự.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào khoản 2 Điều 337, khoản 3 Điều 343, Điều 345 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận Kháng nghị số 73/2016/KN-DS ngày 15-6-2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 106/2013/DS-PT ngày 17-6-2013 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2012/DS-ST ngày 20-7-2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án tranh chấp thừa kế tài sản và chia tài sản chung giữa nguyên đơn là ông Cấn Xuân V, bà Cấn Thị N1, bà Cấn Thị T1, bà Cấn Thị H, ông Cấn Xuân T, bà Cấn Thị N2, bà Cấn Thị M1 với bị đơn là cụ Nguyễn Thị L, ông Cấn Anh C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (07 người).
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[5] Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2017), thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.
[6] Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự này có hiệu lực, thì thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này.     
[7] Như vậy kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định thời hiệu đối với trường hợp mở thừa kế trước ngày 01-01-2017. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990 và Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp này thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ T cho các đồng thừa kế vẫn còn theo quy định của pháp luật.”