> Luật Lâm Vinh Tư vấn pháp luật Bình Dương: Dân sự

Luật Lâm Vinh - Tư vấn luật miễn phí

M

Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là yêu cầu độc lập.

Đối với các vụ án dân sự liên quan đến “Đòi lại tài sản” hoặc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”, phía bị đơn thường có yêu cầu hủy giấy chứng nhận hoặc vừa yêu cầu hủy giấy chứng nhận, vừa yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của mình. Vậy yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trương hợp này là có phải yêu cầu phản tố hay không ?
Yêu cầu phản tố là gì?
Điều 200 BLTTDS 2015. Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn, quy định: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”. Đây là quyền của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn hoặc với người có quyền, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Việc phản tố của bị đơn phải đưa ra trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên hiện nay, thực tiễn giải quyết tại Tòa, việc xác định phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nào là phiên cuối cùng để xác định thời điểm “chốt” thụ lý yêu cầu của bị đơn vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.
Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là yêu cầu độc lập.
Yêu cầu phản tố về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được hiểu là yêu cầu hủy quyết định cá biệt trong vụ án dân sự được quy định tại Điều 34 BLTTDS. Theo quy định tại khoản 2 Điều 34 của BLTTDS thì: “Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.”. Như vậy, khi có căn cứ cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rõ ràng trái pháp luật thì Tòa án có quyền quyết định hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó mà không phụ thuộc vào việc có đương sự yêu cầu hay không. Tòa án bắt buộc phải xem xét, đánh giá tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho nguyên đơn. Qua đó mới có căn cứ quyết định chấp nhận hay không không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn là cùng (không độc lập) với yêu cầu của nguyên đơn. Hiểu như vậy, có nghĩa là yêu cầu hủy giấy chứng nhận không phải là yêu cầu phản tố.
Bản chất của yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong vụ án dân sự là yêu cầu khiếu kiện hành chính nhưng sẽ được giải quyết trong cùng vụ án dân sự. Nếu trong vụ án hành chính thì cơ quan ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là người bị kiện thì trong vụ án dân sự cơ quan ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Như vậy, chủ thể mà bị đơn hướng tới và “có tranh chấp” là cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Và trong vụ án dân sự cơ quan cấp giấy chứng nhận QSD đất thường không có yêu cầu độc lập gì nên không thỏa mãn được điều kiện: “bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với …, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập” quy định tại khoản 1 Điều 200 BLTTDS.
Bị đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận và đề nghị TAND công nhận quyền sử dụng đất của mình.
Trong trường hợp nêu trên, để xác định có phải là yêu cầu phản tố hay không, ngoài việc căn cứ vào quy định phản tố tại Điều 200 BLTTDS, còn phải xét đến trường hợp, nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện và bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố, có làm thay đổi địa vị tố tụng hay không ?
1. Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.
2….
Điều 33 Nghị quyết số 05/2012 quy định:
“3. Nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 219 của BLTTDS, thì Hội đồng xét xử:
a. Ra quyết định đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã rút theo quy định tại khoản 2 Điều 218 của BLTTDS.
b. Công bố công khai tại phiên toà việc thay đổi địa vị tố tụng tuỳ theo mối quan hệ giữa các đương sự liên quan đến yêu cầu phản tố của bị đơn.
4. Việc thay đổi địa vị tố tụng của đương sự phải được ghi vào biên bản phiên toà và phải được ghi trong bản án”.
Như vậy khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình, người có quyền, nghĩa vụ liên quan rút yêu cầu độc lập nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất và tiếp tục đề nghị công nhận quyền sử dụng đất của mình thì lúc này thay địa vị tố tụng được thay đổi. Hiểu như vậy, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp này của bị đơn là yêu cầu phản tố. 

Các trường hợp giấy tờ, tài liệu không được sao y, chứng thực

Điều 22 Nghị định 23/2015/NĐ-CP quy định bản chính giấy tờ, văn bản không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao từ bàn chính, cụ thể như sau:



Kiện đòi lại đất ở nhờ, xác định án có giá ngạch hay không giá ngạch


Xác định kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất cho ở nhờ, cho mượn là án có giá ngạch hay án không có giá ngạch ?

1. Các loại án phí trong vụ án dân sự bao gồm:
a) Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch;
b) Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch;
c) Án phí dân sự phúc thẩm.
2. Vụ án dân sự không có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự không phải là một số tiền hoặc không thể xác định được giá trị bằng một số tiền cụ thể.
3. Vụ án dân sự có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự là một số tiền hoặc là tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể.

Công dân được quyền thay đổi họ, tên



1. Quyền thay đổi họ, tên.
Điều 27, 28 Mục 2 Chường III Bộ luật dân sự 2015, quy định chi tiết trường hợp được thay đổi họ, tên.
1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:
a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;
b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;

Xử lý thỏa thuận về lãi, lãi suất cao hơn mức lãi, lãi suất được pháp luật quy định


Xử lý thỏa thuận về lãi, lãi suất cao hơn mức lãi, lãi suất được pháp luật quy định
Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận về lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn cao hơn mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn được pháp luật quy định thì mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn vượt quá không có hiệu lực; số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi; số tiền lãi đã trả vượt quá còn lại sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay.

Xem thêm bài viết:

Xử lý việc không trả nợ đúng hạn trong hợp đồng vay tài sản


1. Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn.
2. Hợp đồng vay tài sản vừa có thỏa thuận phạt vi phạm, vừa có thỏa thuận lãi trên nợ gốc quá hạn hoặc hình thức khác áp dụng đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án căn cứ quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất để xem xét, quyết định xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn theo nguyên tắc hướng dẫn tại khoản 1 Điều này.

Xem thêm bài viết:


Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng



Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn.
Hợp đồng vay tài sản vừa có thỏa thuận phạt vi phạm, vừa có thỏa thuận lãi trên nợ gốc quá hạn hoặc hình thức khác áp dụng đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án căn cứ quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất để xem xét, quyết định xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn.
Quy trình xử lý việc không trả nợ đúng hạn được hướng dẫn chi tiết tại bài viết:
➤➤➤Kiện thu hồi công nợ Bình Dương

Xem thêm bài viết:


Doanh nghiệp gặp khó khi giải quyết công nợ


Đối với doanh nghiệp, gia tăng các hoạt động bán hàng nhằm tăng doanh số là những giải pháp mà doanh nghiệp luôn ưu tiên áp dụng. Thậm chí, để đạt chỉ tiêu doanh số, nhiều doanh nghiệp không ngần ngại cho đối tác “ghi nợ” tiền hàng, và hệ lụy về công nợ cũng tồn tại song song.
Tùy từng doanh nghiệp, trong hợp đồng mua bán hàng hóa với đối tác, khách hàng mà quy định khác nhau về Điều khoản thanh toán. Phổ biến nhất vẫn là thanh toán chia theo phần, song song với tiến độ thực hiện hợp đồng. Với cách thức này, rủi ro về công nợ mà doanh nghiệp có thể gặp phải là thấp nhưng không phải không có.
Tại thời điểm ký hợp đồng, Các Bên mới chỉ dự liệu rủi ro và ngăn chặn bằng các Điều khoản trong hợp đồng. Nếu Các Bên trong hợp đồng đều tuân thủ nguyên tắc “Đôi bên cùng có lợi” thì việc hợp tác diễn ra suôn sẽ, doanh nghiệp cũng không lo lắng về công nợ. Thực tế, rủi ro về công nợ xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân, kể đến như: mất khả năng thanh toán, chây ì, phá sản, giải thể, trốn tránh….. Vậy, công nợ là gì và giải pháp nào cho doanh nghiệp, quản lý và hạn chế rủi ro.

Pháp luật về đất đai qua các thời kỳ


1. Chế định sở hữu đất đai của Nhà nước qua các thời kỳ
1.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến giai đoạn có Luật Đất đai 1987
Từ bản Cương lĩnh đầu tiên năm 1930, Đảng ta đã nhận định “Có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm Cách mạng thổ địa được thắng lợi”. Xuất phát từ nhận định đúng đắn này, Đảng ta đã giương cao khẩu hiệu “Tịch ký hết thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bốn xứ và các giáo hội, giao ruộng ấy cho trung và bần nông”. Trong Luận cương chính trị năm 1930, Đảng ta đã xác định “Quyền sở hữu (QSH) ruộng đất thuộc về chánh phủ công nông”.

Nghị quyết 02/2016 Hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Tố tụng hành chính



HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
--------


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 02/2016/NQ-HĐTP
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2016

NGHỊ QUYẾT
HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 103/2015/QH13 NGÀY 25-11-2015 CỦA QUỐC HỘI VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 104/2015/QH13 NGÀY 25-11-2015 CỦA QUỐC HỘI VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Căn cứ Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015, Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Áp dụng pháp luật tố tụng dân sự và tố tụng hành chính để giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, vụ án hành chính
1. Kể từ ngày Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01-7-2016), Tòa án áp dụng quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị quyết số 103/2015/QH13 để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 517 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 thì được áp dụng từ ngày 01-01-2017.
2. Kể từ ngày Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01-7-2016), Tòa án áp dụng quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án hành chính, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 371 Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 thì được áp dụng từ ngày 01-01-2017.

Tòa án có thẩm quyền "bỏ quên" yêu cầu khởi kiện của đương sự.


Ngày 27/8/2016, Công ty Cổ phần A và Công ty TNHH Khảo sát và Kiểm định Xây dựng Đức Mỹ có ký các hợp đồng mua bán hàng hóa (gọi tắt là hợp đồng). Tổng giá trị Hợp đồng Các Bên đã ký là:  957.920.620 VNĐ (Chín trăm năm mươi bảy triệu chín trăm hai mươi nghìn sáu trăm hai mươi đồng).
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Cổ phần A đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với hợp đồng trên. Tuy nhiên Công ty TNHH Khảo sát và Kiểm định Xây dựng Đức Mỹ mới chỉ thanh toán 674.000.000 VNĐ và còn phải thanh toán là 281.637.447 VNĐ. Sau nhiều lần liên hệ nhưng không nhận được thiện chí từ phía Công ty TNHH Khảo sát và Kiểm định Xây dựng Đức Mỹ nên Công ty Cổ phần A đã tiến hành khởi kiện tại Tòa án nhân dân (goi tắt là TAND) thành phố Rạch Gía, tỉnh Kiên Giang. Điều đáng nói là Tòa án nhân dân TP Rạch giá dù tiếp nhận đơn nhưng không thực hiện việc xem xét giải quyết theo yêu cầu của đương sự.

Hoãn xuất cảnh đối với người đại diện theo pháp luật của công ty để đảm bảo thi hành án



Điều 51. Việc xuất cảnh của người phải thi hành án
1. Đối với cơ quan, tổ chức đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định thì quy định về tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng đối với người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Đối với người phải thi hành án đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định về tiền, tài sản mà thuộc một trong các trường hợp sau thì có thể không bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh:
a) Có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang.
b) Đã ủy quyền cho người khác mà người được ủy quyền có đủ tài sản và cam kết thi hành thay nghĩa vụ của người ủy quyền; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang.
c) Có sự đồng ý của người được thi hành án;