Trang chủ
»
Hỏi đáp
Giải đáp vướng mắc của Tòa án nhân dân tối cao
Vướng mắc 1:
Trường hợp đất đai của hộ gia đình nhưng đã được ông A (một thành viên
trong hộ) lén lút đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó
ông A chuyển nhượng cho ông B; Ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và tiếp tục chuyển nhượng cho ông C. Ông C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Sau đó, các thành viên hộ gia đình phát hiện hiện ra việc kê khai
gian dối để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã khởi kiện yêu cầu Tòa
án tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C. Trường hợp này,
Tòa án chỉ hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C hay hủy cả giấy
chứng nhận đứng tên ông A, ông B.
Trả lời:
Trường hợp này, Tòa án phải xem xét đánh giá về tính hợp pháp của các quyết
định hành chính là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông A, ông B, ông
C. Nếu việc chuyển nhượng đất giữa ông B với ông C là ngay tình và đúng theo
quy định của pháp luật về chuyển nhượng đất thì Tòa án bác yêu cầu khởi kiện hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều
106 của Luật Đất đai và khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự.
Vướng mắc 2:
Văn bản của Văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thông báo ý kiến kết luận
của Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp huyện thu hồi
đất của hộ gia đình (vì cho rằng giao đất không đúng đối tượng) bị khởi kiện.
Tòa án có xác định văn bản này là quyết định hành chính bị khởi kiện hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 66 Luật Đất đai thì việc
thu hồi đất của hộ gia đình thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, mà
không phải thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Theo quy định tại khoản 6 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì: Quyết định hành chính,
hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức là những quyết định,
hành vi chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công
tác; quản lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ
chức.
Theo các quy định trên thì văn bản thông báo ý kiến của Lãnh đạo Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh là văn bản mang tính chất nội bộ của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về
việc chỉ đạo, điều hành của cơ quan, tổ chức, đồng thời văn bản này không làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên căn cứ vào điểm c khoản 1
Điều 30 của Luật Tố tụng hành chính thì quyết định này không thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án.
Vướng mắc 3:
Tranh chấp liên quan đến ranh giới đất (Ví dụ: cấp chồng lấn), một trong
hai bên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Tòa án nhân dân
cấp huyện thụ lý, xem xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 của Tòa án
nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc
về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính thì thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Nếu vậy thì nhiều vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân cấp huyện chuyển lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ dẫn đến quá tải.
Đối với trường hợp nêu trên, Tòa án xác định diện tích, ranh giới đất và
đề nghị Ủy ban nhân dân điều chỉnh diện tích đất phù hợp với thực tế sử dụng mà
không cần hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do vậy, Tòa án nhân dân cấp
huyện giải quyết thì có phù hợp với Công văn số 64/TANDTC-PC hay không?
Trả lời:
Tại mục 1 Phần I của Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 của Tòa án
nhân dân tối cao về giải đáp nghiệp vụ đã hướng dẫn: Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất là quyết định hành chính cá biệt.
Khoản 1 và khoản 2 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “1. Khi giải quyết vụ
việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan,
tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.
2. Quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này là quyết định đã được
ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối
tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải
được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó”.
Như vậy, theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải
quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà trong đó có việc cơ quan nhà nước cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đang tranh chấp không đúng, gây
thiệt hại đến quyền lợi của đương sự thì Tòa án phải xem xét giải quyết việc hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó trong vụ án dân sự và đưa cơ quan cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan.
Khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa
án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức như sau: “Thẩm quyền của cấp
Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định
cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương ứng của
Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án
nhân dân cấp tỉnh”.
Khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính quy định: Tòa án nhân dân cấp
tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi
hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.
Đối tượng hướng dẫn áp dụng theo Công văn số 64/TANDTC-PC là tranh chấp hợp
đồng chuyển quyền sử dụng đất, còn đối tượng tranh chấp trong trường hợp nêu
trên là tranh chấp quyền sử dụng đất. Đây là hai đối tượng tranh chấp khác
nhau. Hơn nữa, pháp luật chỉ quy định thẩm quyền của Tòa án là hủy quyết định
cá biệt hoặc bác yêu cầu khởi kiện của đương sự mà không quy định Tòa án có thẩm
quyền đề nghị cơ quan hành chính nhà nước điều chỉnh quyết định.
Do vậy, đối với tranh chấp liên quan đến ranh giới đất bị cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất chồng lấn, nếu thấy cần thiết phải xem xét việc hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân cấp tỉnh.
Vướng mắc 4:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ (bị đơn) để bảo
đảm thi hành án. Tài sản bị yêu cầu phong tỏa là nhà, đất đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho
bị đơn. Bị đơn đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất này cho người thứ 3 và
hợp đồng được công chứng nhưng chưa được đăng ký vào sổ địa chính. Vậy, Tòa án
có được ra quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản trong trường hợp này
hay không?
Trả lời:
Điều 126 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:“Phong tỏa tài sản của người
có nghĩa vụ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy
người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo
đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án”.
Khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 122 của Luật Nhà ở năm 2014 quy định như sau:
Khoản 1 Điều 12: “Trường hợp mua bán nhà ở mà không thuộc diện quy định tại
khoản 3 Điều này và trường hợp thuê mua nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu
nhà ở là kể từ thời điểm bên mua, bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền
thuê mua và đã nhận bàn giao nhà ở, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
Khoản 1 Điều 122: “Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp
nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công
chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Đối với
các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là
thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng”.
Khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng
đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và
có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”.
Như vậy, theo các quy định trên, cần xác định rõ tài sản mà nguyên đơn
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có
nghĩa vụ là nhà hay là quyền sử dụng đất.
Trường hợp tài sản là nhà ở, theo quy định của pháp luật, thời điểm hợp đồng
mua bán nhà có hiệu lực là thời điểm hợp đồng đó được công chứng, chứng thực,
còn việc chuyển giao quyền sở hữu từ người bán sang người mua là thời điểm bên
mua đã thanh toán đủ tiền và nhận bàn giao nhà. Vì vậy, trường hợp nguyên đơn
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có
nghĩa vụ là nhà ở thuộc quyền sở hữu của bị đơn thì giải quyết như sau: Nếu bị
đơn đã ký hợp mua bán nhà ở với bên mua, hợp đồng đã được Công chứng mà bên mua
đã trả đủ tiền và nhận bàn giao nhà ở từ bên bán thì kể từ thời điểm này nhà ở
đã không còn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị đơn, nên Tòa án không được áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; nếu hợp đồng
mua bán nhà ở giữa bị đơn với người mua đã được công chứng, nhưng người mua
chưa thanh toán đủ tiền mua hoặc chưa nhận nhà từ bên bán bàn giao thì tài sản
đó vẫn còn thuộc quyền sở hữu của bị đơn, nên Tòa án được áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, theo quy định của pháp luật thì
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời đăng ký vào sổ
địa chính. Vì vậy, trường hợp nguyên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là thửa đất thuộc quyền sử dụng của
bị đơn thì giải quyết như sau: Nếu bị đơn đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, hợp đồng đã được công chứng và đã hoàn
thành thủ tục đăng ký vào sổ địa chính thì kể từ thời điểm này thửa đất không
thuộc quyền sử dụng của bị đơn, nên Tòa án không được áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; nếu đã ký hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, hợp đồng đã được công chứng,
nhưng chưa đăng ký vào sổ địa chính thì thửa đất đó vẫn thuộc quyền sử dụng của
bị đơn, nên Tòa án được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của
người có nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vướng mắc 5:
Trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu nhưng bên nhận chuyển
nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và đã thế
chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật.
Vậy giao dịch thế chấp đó có bị vô hiệu không?
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự quy định:
“...2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký
tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch
dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó
mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp
người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức
có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải
là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa. …”
Theo Bản thuyết minh Dự án Bộ luật Dân sự năm 2015 của Ban soạn thảo thì
quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự là nhằm: “...Bảo đảm công bằng,
hợp lý đối với người thiện chí, ngay tình và bảo đảm sự ổn định trong các quan
hệ dân sự (các Bộ luật dân sự trên thế giới đều ghi nhận việc bảo vệ người thứ
ba ngay tình trong giao dịch dân sự)...”. Cho nên, cụm từ “chuyển giao bằng một
giao dịch dân sự khác” tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự phải được áp dụng
theo nghĩa rộng. Có nghĩa là: Không chỉ có những giao dịch nhằm chuyển giao quyền
sở hữu như: Hợp đồng mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn nhà ở; chuyển nhượng, chuyển
đổi, góp vốn bằng quyền sử dụng đất... mà cả những giao dịch nhằm chuyển giao
những quyền về sở hữu đối với tài sản hoặc quyền về sử dụng đối với thửa đất.
Đồng thời, thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm, theo quy định tại
Điều 317 của Bộ luật Dân sự thì nội hàm của thế chấp tài sản là việc người thế
chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với
bên nhận thế chấp mà không giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Tuy nhiên, tại
khoản 6 Điều 320 của Bộ luật Dân sự quy định nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản
là: “Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong
các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 299 của Bộ luật này...”;
khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự quy định quyền của bên nhận thế chấp: “Xử
lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật
này”. Như vậy, mục đích của thế chấp là người có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở
hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp, trong trường
hợp nghĩa vụ đó không được bên thế chấp thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì
phải giao tài sản đã thế chấp cho bên nhận thế chấp xử lý nhằm bảo đảm quyền lợi
của bên nhận thế chấp. Vì vậy, phải xem thế chấp tài sản là một giao dịch chuyển
giao tài sản có điều kiện; để bảo đảm quyền lợi cho bên nhận thế chấp ngay tình
thì phải hiểu quy định “chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác” tại khoản 2
Điều 133 của Bộ luật Dân sự được áp dụng cả trong trường hợp giao dịch về thế
chấp tài sản.
Cho nên, trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu nhưng bên
nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng
đất và đã thế chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của
pháp luật thì giao dịch thế chấp đó không vô hiệu.
Vướng mắc 6:
Trường hợp, trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho quyền
sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đối với thửa đất đó cho người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng
cho quyền sử dụng đất. Sau đó, các bên tranh chấp và Tòa án xét thấy hợp đồng
nói trên bị vô hiệu hoặc chấp nhận yêu cầu hủy bỏ, như vậy khi giải quyết Tòa
án có phải áp dụng Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự đưa những cơ quan đã cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó tham gia tố tụng với tư cách là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã cấp cho người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng
đất không?
Trả lời:
Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng dân sự là giải quyết vụ việc dân sự được
nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân... Trên cơ sở đó, Điều
34 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định khi giải quyết các vụ việc dân sự, mà
trong vụ việc đó có quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền
trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và nội dung của
quyết định đó liên quan đến vụ việc Tòa án giải quyết thì Tòa án phải hủy quyết
định đó để khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
“Quy định này tạo cơ sở cho Tòa án chủ động trong việc hủy quyết định cá
biệt trái pháp luật có ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của đương sự, nhằm giải
quyết vụ việc dân sự một cách chính xác, toàn diện ”. (Mục 3 Bộ luật Tố tụng
dân sự ngày 10-4-2015 của Tòa án nhân dân tối cao).
Tại mục 1 Phần I của Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 của Tòa án
nhân dân tối cao về Giải đáp nghiệp vụ đã hướng dẫn: “Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất là quyết định hành chính...” cá biệt. Như vậy, theo quy định tại Điều
34 của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà
trong đó có việc cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa
đất đang tranh chấp không đúng, gây thiệt hại đến quyền lợi của đương sự thì
Tòa án phải đưa cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tham gia tố tụng
với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và xem xét hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đó.
Tuy nhiên, tại điểm d khoản 2 của Điều 106 của Luật Đất đai quy định cơ
quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất trong trường hợp “...người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực
hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định
của pháp luật đất đai...”. Theo Điều 195 của Luật Đất đai thì trình tự, thủ tục
cấp giấy chứng nhận hoặc xác nhận nội dung biến động do chuyển quyền sử dụng đất
do Chính phủ quy định. Điều 79 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ
quy định việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
chuyển quyền dựa trên cơ sở hồ sơ hợp đồng, Văn phòng đăng ký đất đai có trách
nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì
xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp hoặc lập hồ sơ trình cơ
quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP
ngày 15-5-2014 của Chính phủ thì việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hoặc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng (các trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật Đất đai) là thủ tục hành chính trong
giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực. Cho nên,
khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị
vô hiệu, nhưng người nhận chuyển quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất hoặc đã được xác nhận nội dung biến động thì không đưa cơ quan có thẩm quyền
trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận
cấp cho người nhận chuyển nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng
đất vô hiệu thì Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn
cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa
án.
Vướng mắc 7:
Việc chỉnh lý bản đồ địa chính cấp xã có là đối tượng khởi kiện vụ án
hành chính không? Nếu thuộc đối tượng khởi kiện thì xác định người bị kiện
trong trường hợp này là ai?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 22 và khoản 3 Điều 31 của Luật Đất đai thì
việc khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính thuộc nội dung quản lý nhà nước về
đất đai do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định.
Theo quy định tại khoản 6 Điều 22 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT quy định về bản đồ địa
chính ngày 19-05-2014 và điểm e khoản 5 Điều 2 của Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày
28-8-2014 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở
Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Phòng Tài nguyên và
Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thì Sở Tài nguyên và Môi trường có
trách nhiệm trong việc lập, chỉnh lý và ký duyệt nghiệm thu bản đồ địa chính.
Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên thì bản đồ địa chính cấp xã được
xác định là quyết định hành chính, nếu việc chỉnh lý bản đồ địa chính cấp xã
thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì là
đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Việc lập, chỉnh lý, ký duyệt bản đồ địa chính do Sở Tài nguyên và Môi trường
hoặc do cơ quan, tổ chức khác thực hiện thì người bị kiện được xác định là cơ
quan, tổ chức đã thực hiện việc lập, chỉnh lý, ký duyệt bản đồ địa chính mà người
khởi kiện cho rằng việc chỉnh lý đó xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của
họ theo quy định tại khoản 9 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính.
Vướng mắc 8:
Điều 203 của Luật Đất đai quy định: “3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải
quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết
tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với
nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với
quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành
chính”.
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn
giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với
quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng
hành chính;
Vậy trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần
2 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện tại Tòa án hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 7 của Luật Khiếu nại thì:
“1....Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết
khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết
thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng
hành chính.
3... Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần
hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết
thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng
hành chính.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 (về khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án) của Luật Tố tụng hành chính thì:
“1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định,
hành vi sau đây:
a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước
trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;
b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành
chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;
c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ
quan, tổ chức.”
Như vậy, theo quy định của Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính về
thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì không loại trừ quyết định giải quyết khiếu
nại lần 2 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường trong lĩnh vực đất đai. Do đó, nếu các quyết định này thỏa mãn quy định
tại khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì thuộc đối tượng khởi kiện vụ
án hành chính.
Vướng mắc 9:
Tại mục 2 phần dân sự của Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 của Tòa
án nhân dân tối cao về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến hướng dẫn đối với
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho quyền sử dụng đất mà cơ
quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đó cho
người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng đất thì
Tòa án không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và
không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển nhượng. Vậy,
trong trường hợp người khởi kiện chỉ khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thì Tòa án có thụ lý giải quyết hay không?
Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm đang xem xét, giải quyết vụ án dân sự tranh
chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, thì người khởi kiện thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ đề nghị Tòa án tuyên hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án xử lý trường hợp này như thế nào?
Trả lời:
Tại mục 1 Phần I của Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 giải đáp một
số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng
dẫn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính nếu thuộc một
trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm
2015 thì là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Do đó, trong trường hợp này,
nếu người khởi kiện chỉ khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thì Tòa án vẫn xem xét thụ lý giải quyết vụ án theo quy định của Luật Tố tụng
hành chính.
Đối với trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm đang xem xét, giải quyết vụ án dân
sự tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, người khởi kiện thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ đề nghị Tòa án
tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Tòa án đang xem xét, giải quyết
ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó
trong sổ thụ lý theo quy định tại khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Vướng mắc 10:
Đối với trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp trên cơ sở
hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho quyền sử dụng đất, khi Tòa án xem
xét giải quyết yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Tòa án có xem
xét, quyết định về giá trị pháp lý của hợp đồng về quyền sử dụng đất này hay
không và có đưa những người tham gia ký kết hợp đồng vào tham gia tố tụng với
tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 191 của Luật Tố tụng hành chính thì đối với
vụ án hành chính, Hội đồng xét xử chỉ xem xét, quyết định về các vấn đề sau
đây:
“a) Tính hợp pháp và có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định hành
chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện;
b) Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định
hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính;
c) Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành
vi hành chính;
d) Mối liên hệ giữa quyết định hành chính, hành vi hành chính với quyền
và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người có liên quan;
đ) Tính hợp pháp và có căn cứ của văn bản hành chính có liên quan (nếu
có);
e) Vấn đề bồi thường thiệt hại và vấn đề khác (nếu có)”.
Trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp trên cơ sở hợp đồng
về quyền sử dụng đất thì Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá tính hợp pháp của hợp
đồng về quyền sử dụng đất để làm cơ sở xem xét, đánh giá về tính hợp pháp và có
căn cứ của quyết định hành chính là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên cơ
sở đánh giá, nhận định này, Hội đồng xét xử quyết định bác yêu cầu khởi kiện nếu
yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật, hoặc chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó trái
pháp luật.
Trong trường hợp này, người tham gia ký kết hợp đồng về quyền sử dụng đất
tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án
theo quy định tại khoản 10 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính.
Vướng mắc 11:
Trường hợp vụ án tranh chấp chia tài sản là bất động sản sau khi ly hôn
mà nơi cư trú của bị đơn và nơi có bất động sản tranh chấp khác nhau thì Tòa án
nào có thẩm quyền giải quyết?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp
chia tài sản sau khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì:
“Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có
trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,
lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này”.
Trường hợp này, quan hệ hôn nhân chấm dứt do vợ chồng đã ly hôn, nhưng
tranh chấp tài sản sau ly hôn vẫn là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định
tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên căn cứ các quy định nêu trên thì
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết.
Vướng mắc 12:
Trong vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người có quyền và nghĩa vụ
liên quan đang ở nước ngoài nhưng nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí ủy
thác ra nước ngoài theo quy định. Tòa án căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Trường
hợp này, Tòa án có phải ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 152 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì
nguyên đơn, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc đương sự khác phải nộp
tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài khi yêu cầu của họ làm phát
sinh việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Đối với trường hợp nêu trên, nguyên
đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác ra nước ngoài và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ở nước ngoài không biết có việc Tòa án ở Việt Nam đang thụ
lý vụ án. Do đó, Tòa án không phải ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ở nước ngoài.
Vướng mắc 13:
Trường hợp khởi kiện đối với việc trả lại hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng
đất của Phòng Tài nguyên và Môi trường với lý do vị trí đất nằm trong khu quy
hoạch thì xác định người bị kiện là Phòng Tài nguyên và Môi trường hay Ủy ban
nhân dân cấp huyện?
Trả lời:
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 59 Luật đất đai thì Ủy ban nhân dân
huyện có thẩm quyền: “Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng
đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất,
cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương
mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận
của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định”.
Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29-7-2011 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố
tụng hành chính năm 2011 thì để xác định quyết định hành chính, hành vi hành
chính bị kiện là đối tượng khởi kiện thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật
về thẩm quyền.
Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cụ thể là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, nhưng do người
trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác đó thực hiện theo sự
phân công hoặc ủy quyền, ủy nhiệm thì hành vi đó là hành vi hành chính của cơ
quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác mà không phải là hành vi hành
chính của người đã thực hiện hành vi hành chính đó.
Theo hướng dẫn tại Điều 4 và khoản 4 Điều 5 Thông tư liên tịch số
50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28-8-2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội
vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên
và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,
Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh, thì Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp
huyện quản lý nhà nước như thẩm định hồ sơ về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,
chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các đối tượng
thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Theo quy định và hướng dẫn nêu trên, Phòng Tài nguyên và Môi trường là
đơn vị thực hiện thẩm tra hồ sơ theo chức năng, nhiệm vụ được giao giúp Ủy ban
nhân dân huyện xem xét, quyết định việc công dân xin chuyển mục đích sử dụng đất.
Do đó, trong trường hợp này, Tòa án xác định người bị kiện là Ủy ban nhân dân cấp
huyện.
Căn cứ pháp lý:
- Công văn 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020. (Giải đáp vướng mắc 1, 2,
3, 4).
- Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/04/2019 (Giải đáp vướng mắc
5, 6, 7).
- Công văn 212/TANDTC-PC ngày 13/09/2019 (Giải đáp vướng mắc 8,
9, 10, 11).
- Văn bản 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017 (Giải đáp vướng mắc
12, 13).
Hợp đồng chuyển nhượng đất vô hiệu, Tòa án có đưa những cơ quan đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ?
Trường hợp,
trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho quyền sử dụng đất, cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất
đó cho người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng đất.
Sau đó, các bên tranh chấp và Tòa án xét thấy hợp đồng nói trên bị vô hiệu hoặc
chấp nhận yêu cầu hủy bỏ, như vậy khi giải quyết Tòa án có phải áp dụng Điều 34
của Bộ luật Tố tụng dân sự đưa những cơ quan đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đó tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để
xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người nhận chuyển nhượng,
nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng đất không?
Nhiệm vụ của
Bộ luật Tố tụng dân sự là giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính
xác, công minh và đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân… Trên cơ sở đó, Điều 34 của Bộ luật Tố tụng
dân sự quy định khi giải quyết các vụ việc dân sự, mà trong vụ việc đó có quyết
định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trái pháp luật, xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và nội dung của quyết định đó liên quan đến
vụ việc Tòa án giải quyết thì Tòa án phải hủy quyết định đó để khôi phục quyền,
lợi ích hợp pháp của đương sự.
“Quy định này tạo cơ sở cho Tòa án chủ động
trong việc hủy quyết định cá biệt trái pháp luật có ảnh hưởng tới quyền lợi hợp
pháp của đương sự, nhằm giải quyết vụ việc dân sự một cách chính xác, toàn diện”.
(Mục 3 Bản thuyết minh dự án Bộ luật Tố tụng dân sự ngày 10-4-2015 của Tòa án
nhân dân tối cao).
Tại mục 1 Phần
I của Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 của Tòa án nhân dân tối cao về Giải
đáp nghiệp vụ đã hướng dẫn: “Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính…” cá biệt. Như vậy, theo
quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết tranh chấp về
quyền sử dụng đất mà trong đó có việc cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đối với thửa đất đang tranh chấp không đúng, gây thiệt hại đến quyền lợi
của đương sự thì Tòa án phải đưa cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tham gia tố tụng với tư các là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và xem
xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó.
Tuy nhiên, tại
điểm d khoản 2 của Điều 106 của Luật Đất đai quy định cơ quan cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không được thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong
trường hợp “…người được cấp Giấy chứng nhận
đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
theo quy định của pháp luật đất đai…”. Theo Điều 195 của Luật Đất đai thì
trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận hoặc xác nhận nội dung biến động do chuyển
quyền sử dụng đất do Chính phủ quy định. Điều 79 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP
ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do chuyển quyền dựa trên cơ sở hồ sơ hợp đồng, Văn phòng
đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các
quyền theo quy định thì xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp
hoặc lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy,
theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của
Chính phủ thì việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc xác nhận nội
dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng (các trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều 105 của Luật Đất đai) là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự,
không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trên cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực. Cho nên, khi giải quyết tranh chấp
về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu, nhưng người nhận
chuyển quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được xác nhận
nội dung biến động thì không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham
gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển
nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vô hiệu thì Văn
phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết
định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Ký phụ lục hợp đồng điều chỉnh mức lương
Nhờ anh/chị tư vấn giúp em với ah. Công ty em có trường
hợp người lao động đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, cách đây 15
năm rồi. Do hợp đồng lao động đã quá cũ và ràng buộc pháp lý sơ sài và mức
lương cách đây 15 năm cũng đã quá cũ. Bây giờ e muốn kí lại hợp đồng lao động vẫn
là hợp đồng ko xác định thời hạn và cập nhật mức lương mới nhất của người
đó. ngày ký em cũng lấy ngày mới nhất là
từ 26/6 (Với mức lương mới nhất). Vậy ngày hiệu lực e lấy là ngày 26/6 có được
ko và có bị sai j về pháp lý ko ah? Em cám ơn nhiều!
Điều 22. Loại hợp đồng
lao động
1. Hợp đồng lao động phải được giao kết
theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng lao động không xác định
thời hạn;
Hợp đồng lao động không xác định thời
hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt
hiệu lực của hợp đồng.
b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động xác định thời hạn
là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực
của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.
c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc
theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
2. Khi hợp đồng lao động quy định tại
điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc
thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải
ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng
đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động
không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản
1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24
tháng.
Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng
lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần,
sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động
không xác định thời hạn.
3. Không được giao kết hợp đồng lao động
theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm
những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp
phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ
thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.
Vậy trường hợp,
hợp đồng lao động được ký giữa người sử dụng lao động và người lao động đã quá
lâu, nhiều Điều Khoản trong hợp đồng không còn phù hợp với thực tế thì giải quyết
như thế nào? Các Bên có thể soạn thảo một bản hợp đồng lao động không xác định
và ký tại thời điểm hiện tại không ?
Về nguyên tắc hợp đồng lao động không xác định thời hạn
chỉ được ký 1 lần và có hiệu lực cho đến khi quan hệ hợp đồng chấm dứt. Trường
hợp cần sửa đổi, bổ sung các Điều Khoản trong hợp đồng lao động, thì người lao
động và người sử dụng lao động có thể thỏa thuận để ký kết Phụ lục hợp đồng lao
động.
Điều 24 Bộ luật lao động có quy định về Phụ lục hợp đồng,
như sau:
1. Phụ lục hợp đồng lao động là một bộ
phận của hợp đồng lao động và có hiệu lực như hợp đồng lao động.
2. Phụ lục hợp đồng lao động quy định chi tiết một số điều
khoản hoặc để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp phụ lục hợp đồng lao động quy định chi tiết một số
điều, khoản của hợp đồng lao động mà dẫn đến cách hiểu khác với hợp đồng lao động
thì thực hiện theo nội dung của hợp đồng lao động.
Trường hợp phụ lục hợp đồng lao động dùng để sửa đổi, bổ sung
hợp đồng lao động thì phải ghi rõ nội dung những điều khoản sửa đổi, bổ sung và
thời điểm có hiệu lực.
Một phương
án nữa mà người sử dụng lao động có thể sử dụng đó là thỏa thuận với người lao
động để ký hợp đồng lao động mới, giữ nguyên mức lương theo hợp đồng lao động
không xác định trước đó đã ký, chỉ điều chỉnh các Điều Khoản không hợp lý theo
hướng hợp lý và chặt chẽ hơn và thu hồi bản hợp đồng lao động không xác định thời
hạn đã ký trước đó. Sau khi có hợp đồng không xác định thời hạn (đã soạn thảo lại
cho phù hợp, vẫn giữ nguyên ngày ký hợp đồng trước đây) thì người sử dụng lao động
ký tiếp Phụ lục hợp đồng lao động có điều chỉnh mức lương. Phương án này phải
qua 2 bước nên dài dòng và mất thời gian so với phương án ký trực tiếp bằng Phụ
lục hợp đồng lao động, điều chỉnh các điểm không phù hợp, điều chỉnh mức lương.
Trên đây là
tư vấn của Luật Lâm Vinh liên quan đến hợp đồng không xác định thời hạn.
Hotline: 0968.682.478
Thẩm quyền ký quyết định sa thải
Hình thức kỷ luật sa thải được áp dụng như thế nào ? Ai là
người được quyền ra quyết định kỷ luật sa thải người lao động ?
Điều 126 của Bộ
luật lao động 2012.
Hình thức xử
lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp
sau đây:
1. Người lao động có
hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong
phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm
trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của
người sử dụng lao động;
2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng
lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách
chức mà tái phạm.
Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi
phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127
của Bộ luật này;
3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng
hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.
Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm:
thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao
động.
Điều 125
BLLĐ 2021 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021 cũng quy định chi tiết hình thức kỷ
luật sa thải.
Về thẩm
quyền ra quyết định sa thải:
Khoản 4 Điều
30 Nghị
định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015, quy định chi tiết một số điều của Bộ
luật lao động 2012, hướng dẫn trình tự xử lý kỷ luật lao động, quy định cụ thể
như sau:
Người giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại các Điểm
a, b, c và d Khoản 1 Điều 3 Nghị định này là người có thẩm quyền ra quyết định
xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động. Người được ủy quyền giao kết hợp
đồng lao động chỉ có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động theo hình thức khiển
trách.
Theo quy định nêu trên thì chỉ người đại diện theo pháp
luật của pháp nhân mới có quyền ra quyết định kỷ luật sa thải.
Tuy nhiên,
Khoản 12 Điều 1 Nghị
định 148/2018/NĐ-CP, ngày 24/10/2018, sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định
05/2015/NĐ-CP, ngày 12/01/2015, quy định như sau:
Người giao
kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là người có thẩm
quyền ra quyết định xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động.\
Về khái niệm
người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động đã được hướng
dẫn cụ thể tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018, theo đó:
. Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng
lao động là người thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Người đại diện theo pháp luật quy định tại điều lệ của
doanh nghiệp, hợp tác xã;
b) Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức có tư cách pháp
nhân theo quy định của pháp luật;
c) Người được các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp
tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân ủy quyền làm người đại diện
theo quy định của pháp luật;
d) Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động;
e) Người được người đại diện theo pháp luật quy định tại
Điểm a hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức quy định tại Điểm b Khoản
này ủy quyền bằng văn bản về việc giao kết hợp đồng lao động.”
Như vậy, so
với Nghị định 05/2015/NĐ-CP thì đến Nghị định 148/2018/NĐ-CP đã mở rộng đối
tượng được quyền ký quyết định kỷ luật sa thải mà không chi giới hạn người đại
diện theo pháp luật mới được ký ban hành quyết định kỷ luật sa thải.
Tài liệu chứng minh nhà ở hợp pháp bao gồm giấy tờ gì ?
Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP, ngày 18 tháng 04 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật cư trú về Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp quy định như sau:
1. Giấy tờ,
tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú là một trong các giấy
tờ, tài liệu sau đây:
a) Giấy tờ,
tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của công dân là một trong
các giấy tờ, tài liệu sau đây:
- Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm
quyền cấp qua các thời kỳ;
- Giấy tờ về
quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai (đã có nhà ở trên đất
đó);
- Giấy phép
xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (đối với trường hợp phải cấp
giấy phép);
- Hợp đồng mua
bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước hoặc giấy tờ về hóa giá thanh lý nhà ở thuộc sở
hữu nhà nước;
- Hợp đồng mua
nhà ở hoặc giấy tờ chứng minh việc đã bàn giao nhà ở, đã nhận nhà ở của doanh
nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở đầu tư xây dựng để bán;
- Giấy tờ về
mua, bán, tặng, cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có công chứng hoặc chứng thực của Ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp xã);
- Giấy tờ về
giao tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết, cấp nhà ở, đất ở
cho cá nhân, hộ gia đình di dân theo kế hoạch của Nhà nước hoặc các đối tượng
khác;
- Giấy tờ của
Tòa án hoặc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết cho được sở hữu
nhà ở đã có hiệu lực pháp luật;
- Giấy tờ có
xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở, đất ở không có tranh chấp quyền sở
hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nếu không có một trong các giấy tờ nêu trên;
- Giấy tờ chứng
minh về đăng ký tàu, thuyền, phương tiện khác thuộc quyền sở hữu và địa chỉ bến
gốc của phương tiện sử dụng để ở. Trường hợp không có giấy đăng ký thì cần có
xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc có tàu, thuyền, phương tiện khác sử
dụng để ở thuộc quyền sở hữu hoặc xác nhận việc mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế
tàu, thuyền, phương tiện khác và địa chỉ bến gốc của phương tiện đó.
b) Giấy tờ,
tài liệu chứng minh việc cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là văn bản
cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cơ quan, tổ chức hoặc của cá
nhân (trường hợp văn bản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cá
nhân phải được công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã). Đối với
nhà ở, nhà khác tại thành phố trực thuộc trung ương phải có xác nhận của Ủy ban
nhân dân cấp xã về điều kiện diện tích bình quân bảo đảm theo quy định của Hội
đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương và được người cho thuê, cho mượn,
cho ở nhờ đồng ý băng văn bản;
c) Giấy tờ của
cơ quan, tổ chức, cơ sở tôn giáo về việc công dân có chỗ ở thuộc trường hợp quy
định tại Điểm c, Điểm d Khoản 1 Điều 26 của Luật Cư trú;
d) Giấy tờ của
cơ quan, tổ chức do thủ trưởng cơ quan, tổ chức ký tên, đóng dấu chứng minh về
việc được cấp, sử dụng nhà ở, chuyển nhượng nhà ở, có nhà ở tạo lập trên đất do
cơ quan, tổ chức giao đất để làm nhà ở (đối với nhà ở, đất thuộc thẩm quyền quản
lý của cơ quan, tổ chức).
Xây dựng nhà không phép, xử lý như thế nào ?
Cá
nhân, tổ chức xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị mà không có giấy phép xây dựng
thuộc trường hợp phải xin giấy phép sẽ bị áp dụng các chế tài xử lý của pháp luật.
Các chế tài mà cá nhân vi phạm buộc phải thực hiện bao gồm hình thức phạt tiền
và các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 3 và Khoản
3 Điều 3 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP,
ngày 27/11/2017 của Chính phủ về việc “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai
thác, chế biến, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật;
kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở” (sau đây gọi tắt là Nghị định
139);
Khoản 5 Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP về phạt tiền đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công
trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng, quy định cụ thể như sau:
a) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
20.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ trong khu bảo tồn, khu di tích
lịch sử - văn hóa hoặc xây dựng công trình khác không thuộc các trường hợp quy
định tại điểm b, điểm c khoản này;
b) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến
30.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị;
c) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến
50.000.000 đồng đối với xây dựng công trình có yêu cầu phải lập báo cáo kinh tế
- kỹ thuật đầu tư xây dựng hoặc lập dự án đầu tư xây dựng.
Khoản 11 Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP về biện pháp khắc phục hậu quả, quy định:
a) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường
đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Buộc bổ sung phương tiện che chắn theo quy định và khôi phục lại
tình trạng ban đầu đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này;
c) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu và bồi
thường thiệt hại đối với hành vi quy định tại khoản 3 Điều này;
d) Buộc tháo dỡ
công trình, phần công trình xây dựng vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản
2, khoản 4, khoản 5 (mà hành vi vi phạm đã kết thúc), khoản 6 và khoản 7 Điều
này.
Điểm d Khoản 11 Nghị định 139/2017/NĐ-CP được hướng dẫn bởi Khoản 4 Thông tư 03/2018/TT-BXD hướng dẫn thi hành Nghị định 139/2017/NĐ-CP, quy định như sau:
1. Khi người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm hành
chính quy định tại khoản 2, khoản 4 hoặc khoản
5 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP, mà hành vi này đã kết thúc, thì
ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng
biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm.
2. Công trình, phần công trình xây dựng vi phạm phải được
tháo dỡ theo phương án, giải pháp phá dỡ được phê duyệt cho đến khi phần
còn lại của công trình đảm bảo an toàn chịu lực khi đưa vào sử dụng.
3. Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức lập, thẩm tra, phê duyệt và
thực hiện phương án, giải pháp phá dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi
phạm theo quy định tại khoản 2 Điều này. Phương án, giải pháp phá dỡ phải đảm bảo
an toàn công trình xây dựng sau khi phá dỡ phần vi phạm, tính mạng, sức khỏe,
công trình xây dựng lân cận và đảm bảo vệ sinh, môi trường.
4. Trường hợp chủ đầu tư không tự giác chấp hành biện pháp buộc
tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm thì bị cưỡng chế thi hành.
Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thuê tổ chức tư vấn lập phương án,
giải pháp phá dỡ, giao cơ quan chuyên môn về xây dựng cùng cấp thẩm định
trước khi quyết định phê duyệt phương án, giải pháp phá dỡ. Chủ đầu tư có trách
nhiệm chi trả toàn bộ chi phí liên quan đến việc cưỡng chế tháo dỡ công trình,
phần công trình xây dựng vi phạm: lập, thẩm định, phê duyệt phương án, giải
pháp phá dỡ và tổ chức cưỡng chế tháo dỡ.
Để thao gỡ khó khăn cho cá nhân, tổ chức khi xây dựng nhà không phép, Luật Lâm Vinh sẽ tư vấn, đưa ra giải pháp để giảm thiểu tối đa thiệt hai và hướng giải quyết khắc phục hậu quả.
Hotline: 0982724157 (Zalo/Skype)
Ký màu mực đen trên văn bản có được không ?
Bạn Nguyễn Thị Thanh (Thủ Đức – HCM) hỏi rằng: “Tổng giám đốc sử dụng màu
mực đen ký trên văn bản ủy quyền có được không, hợp pháp hay không ? Khi sử dụng
văn bản ủy quyền này trong các giao dịch dân sự, một số cơ quan, tổ chức yêu cầu
ký bằng màu mực xanh”. Vậy Luật quy định như thế nào ?
Khoản 5 Điều 10 Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/04/2004 quy định về công
tác văn thư quy định: “Khi ký văn bản
không dùng bút chì; không dùng mực đỏ hoặc các thứ mực dễ phai”.
Theo nội dung quy định viện dẫn ở trên, việc sử dụng mực màu đen là không
bị cấm. Tuy nhiên thực tế việc sử dụng mực đen để ký trên văn bản dễ gây nhầm lẫn
đối với các văn bản được photo ra từ bản chính. Luật không cấm, song việc sử dụng
mực mà xanh, màu sáng trong việc ký tên trên văn bản sẽ giúp các cơ quan, tổ chức
dễ dàng hơn trong việc kiểm soát, tránh giả mạo.
Trên đây là tư vấn của Luật Lâm Vinh trong việc sử dụng màu mực chữ ký
trên văn bản, hợp đồng.
Cây đổ làm chết người, ai là người có trách nhiệm bồi thường
Thiệt hại được hiểu là những tổn thất, mất mát về sức khỏe, tính mạng,
danh dự, nhân phẩm, tinh thần và tài sản hoặc các lợi ích vật chất, tinh thần
khác mà người bị thiệt hại phải ghánh chịu. Nguyên nhân gây ra thiệt hại có thể
xuất phát từ nhiều yếu tố, lỗi, sự kiện bất khả kháng, sự kiện bất ngờ hoặc các
hành vi khách quan khác.
Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS) cũng đã thể hiện cụ thể các quy định liên
quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bao gồm cả thiệt hại theo hợp đồng
và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Phạm vi bài viết này, Luật Lâm Vinh chỉ
bàn tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cụ thể là thiệt hại do
cây cối gây ra.
1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Điều 584 BLDS quy định:
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp
khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật
này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều
590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có
nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
Theo quy định của Bộ luật dân sự thì trong trường hợp chủ sở hữu, người
chiếm hữu, người được giao quản lý cây cối mà gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ
chức khác thì có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đầy đủ và kịp thời, ngoại trừ
trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 584 BLDS được trích dẫn ở trên.
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày
người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị
xâm phạm.
Liên hệ:
914/43/28 Lê Chí Dân, Tương Bình Hiệp, Thủ Dầu Một, Bình Dương
Hotline Mr. Vinh 0968.682.478
- 0982.724.157
- 0982.724.157







