> Luật Lâm Vinh Tư vấn pháp luật Bình Dương: KIỆN THU HỒI NỢ

Luật Lâm Vinh - Tư vấn luật miễn phí

M

Trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế là gì ?

Trọng tài thương mại là hình thức tài phán mà quyền lực của nó được tạo nên bởi chính các bên trong quan hệ tranh chấp thương mại. Tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự, pháp luật quy định nguyên tắc loại trừ thẩm quyền của tòa án khi các bên đã lựa chọn trọng tài.

2. Các hình thức trọng tài thương mại:

Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức, đó là trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) và trọng tài thường trực.

2.1. Trọng tài vụ việc

Có thể định nghĩa rằng, trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài vụ việc sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp. Đây là hình thức trọng tài xuất hiện sớm nhất và được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới.

Từ định nghĩa trên, ta có thể rút ra được một số đặc điểm của trọng tài vụ việc như sau:

·        Thứ nhất, trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động (tự giải thể) khi giải quyết xong tranh chấp.

·        Thứ hai, trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên riêng. Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được chỉ định có thể là người có tên hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tài nào.

·        Thứ ba, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình, mà quy tắc tố tựng để giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng. Thông thường, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng phổ biến nào, thường là quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài có uy tín ở trong nước và quốc tế.

Ở Việt Nam, hình thức trọng tài vụ việc lần đầu tiên được quy định tại Pháp lệnh trọng tài thương mại một cách cụ thể, rõ ràng về cách thức hình thành, quy trình tố tụng cũng như giá trị của pháp quyết và cơ chế đảm bảo thi hành quyết định của trọng tài vụ việc. Có thể khẳng định rằng, diện mạo của trọng tài vụ việc ở Việt Nam được khắc họa rõ nét kể từ khi ban hành Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003.

2.2. Trọng tài thường trực

Ở các nước trên thế giới, trọng tài thường trực thường được tổ chức dưới những hình thức đa dạng như: các trung tâm trọng tài, các hiệp hội trọng tài hay các viện trọng tài nhưng chủ yếu và phổ biến được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài.

Theo pháp luật Việt Nam, trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài. Ta có định nghĩa: Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định.

Từ khái niệm về trung tâm trọng tài trên, ta có thể đưa ra một số đặc trưng cơ bản về hình thức trọng tài này như sau:

·        Thứ nhất, các trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước. Thể hiện:

- Các trung tâm trọng tài được thành lập theo sáng kiến của các trọng tài viên sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chứ không phải được thành lập bởi Nhà nước. Do đó, nó không nằm trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử Nhà nước.

- Hoạt động của trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nước.

- Trọng tài viên duy nhất hoặc hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước mà nhân danh người thứ ba độc lập ra phán quyết.

- Dù không được thành lập bởi Nhà nước nhưng trung tâm trọng tài vẫn luôn đặt dưới sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước, thông qua các hoạt động như: ban hành các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài; cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của các trung tâm trọng tài; hỗ trợ trung tâm trọng tài trong việc hủy hoặc không hủy quyết định trọng tài, hỗ trợ trong việc cưỡng chế thi hành quyết định trọng tài...

·        Thứ hai, các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau. Giữa các trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên, cấp dưới.

·        Thứ ba, tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ. Cơ cấu của trung tâm trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài viên của trung tâm. Cụ thể:

- Ban điều hành gồm có chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch trung tâm trọng tài và có thể có tổng thư ký trung tâm trọng tài do chủ tịch trung tâm trọng tài cử.

- Các trọng tài viên trong danh sách trung tâm trọng tài có thể tham giai vào việc giải quyết tranh chấp khi được chọn hoặc chỉ định.

·        Thứ tư, mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố tụng riêng. Thể hiện:

- Tùy theo khả năng chuyên môn của đội ngũ trọng tài viên, mỗi trung tâm trọng tài có quyền tự xác định về lĩnh vực hoạt động của mình, đồng thời có thể mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi lĩnh vực hoạt động trên cơ sở sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

- Mỗi trung tâm trọng tài đều có điều lệ riêng, đặc biệt là quy tắc tố tụng riêng được xây dựng căn cứ vào đặc thù về tổ chức, hoạt động của trung tâm và không trái với quy định của pháp luật về trọng tài thương mại. Khi giải quyết tranh chấp, hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất phải tuân thủ quy tắc tố tụng này.

- Việc xây dựng quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài thường dựa trên cơ sở là một số bản quy tắc trong tài hay một số công ước quốc tế có liên quan cũng như bản quy tắc tố tụng của một số trung tâm trọng tài quốc tế có uy tín.

·        Thứ năm, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các trọng tài viên của trung tâm. Việc chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp chỉ được giới hạn trọng danh sách trọng tài viên của trung tâm. Vì vậy, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài chỉ được tiến hành bởi các trọng tài viên của chính trung tâm.

 

Có khởi kiện được công ty đã tạm ngừng hoạt động hay không ?

 


Doanh nghiệp ký kết hợp đồng với đối tác là doanh nghiệp khác nhưng Các Bên chưa tất toán hợp đồng. Đối tác chưa thanh toán hết công nợ và các nghĩa vụ khác kèm theo.

Vậy có kiện được khách hàng khi đã thông báo tạm ngừng kinh doanh ?

Khoản 3 Điều 200 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về việc tạm ngừng kinh doanh như sau:


Việc tạm ngừng kinh doanh chưa chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, tức là doanh nghiệp vẫn còn tư cách pháp nhân cho đến khi việc giải thể và/hoặc phá sản doanh nghiệp được hoàn tất trên thực tế.

Chỉ khi tư cách pháp nhân chấm dứt, việc khởi kiện không được thụ lý do chủ thể bị khởi kiện không còn tồn tại. Nếu có thì chỉ khởi kiện cổ đông đối với công ty cổ phần, chủ doanh nghiệp đối với công ty TNHH (trong phạm vi góp vốn).

Vậy luật quy định như thế nào về việc giải thể doanh nghiệp ?

Điều 2020 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về giải thể doanh nghiệp như sau:


Sau khi giải thể, doanh nghiệp bị cấm thực hiện hoạt động nào ?

Theo Điểm d và Điểm e Khoản 1 Điều 2005 Luật doanh nghiệp thì việc ký kết HĐ mới không được phép thực hiện, ngoại trừ phục vụ vào việc giải thể; các hợp đồng có hiệu lực cũng bị chấm dứt do tư cách pháp nhân của doanh nghiệp không còn


Bản án về lãi suất chậm thanh toán

Giải pháp nào cho doanh nghiệp để thu hồi công nợ hiệu quả

Công nợ của một doanh nghiệp thường được thể hiện dưới hai dạng, đó là công nợ phải thu và công nợ phải trả. Trong phạm vi bài viết này, Luật Lâm Vinh chỉ đề cập đến dạng thứ hai đó là Công nợ phải thu. Và đây cũng là vấn đề "đau đầu" với các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh.
Công nợ phải được hiểu là một khoản tiền đến hạn thanh toán theo hợp đồng mà đối tác, khách hàng chưa thanh toán. Nó liên quan đến tiền bán sản phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ, khoản đầu tư, chưa thu được tiền.
Phương thức quản lý và thu hồi công nợ hiệu quả đã được nhiều diễn đàn, hội thảo chia sẽ và bản thân các doanh nghiệp cũng tự ý thức được, tư "xây dựng" cho mình một đội ngủ kế toán công nợ nội bộ nhằm đảm bảo khoản nợ phải thu luôn trong hạn mức cho phép. Một số hành động mà Bộ phận kế toán công nợ của doanh nghiệp cần thực hiện bao gồm nhưng không giới hạn các công việc sau: Phương thức quản lý công nợ hiệu quả

Doanh nghiệp gặp khó khi giải quyết công nợ


Đối với doanh nghiệp, gia tăng các hoạt động bán hàng nhằm tăng doanh số là những giải pháp mà doanh nghiệp luôn ưu tiên áp dụng. Thậm chí, để đạt chỉ tiêu doanh số, nhiều doanh nghiệp không ngần ngại cho đối tác “ghi nợ” tiền hàng, và hệ lụy về công nợ cũng tồn tại song song.
Tùy từng doanh nghiệp, trong hợp đồng mua bán hàng hóa với đối tác, khách hàng mà quy định khác nhau về Điều khoản thanh toán. Phổ biến nhất vẫn là thanh toán chia theo phần, song song với tiến độ thực hiện hợp đồng. Với cách thức này, rủi ro về công nợ mà doanh nghiệp có thể gặp phải là thấp nhưng không phải không có.
Tại thời điểm ký hợp đồng, Các Bên mới chỉ dự liệu rủi ro và ngăn chặn bằng các Điều khoản trong hợp đồng. Nếu Các Bên trong hợp đồng đều tuân thủ nguyên tắc “Đôi bên cùng có lợi” thì việc hợp tác diễn ra suôn sẽ, doanh nghiệp cũng không lo lắng về công nợ. Thực tế, rủi ro về công nợ xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân, kể đến như: mất khả năng thanh toán, chây ì, phá sản, giải thể, trốn tránh….. Vậy, công nợ là gì và giải pháp nào cho doanh nghiệp, quản lý và hạn chế rủi ro.

Hoãn xuất cảnh đối với người đại diện theo pháp luật của công ty để đảm bảo thi hành án



Điều 51. Việc xuất cảnh của người phải thi hành án
1. Đối với cơ quan, tổ chức đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định thì quy định về tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng đối với người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Đối với người phải thi hành án đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định về tiền, tài sản mà thuộc một trong các trường hợp sau thì có thể không bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh:
a) Có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang.
b) Đã ủy quyền cho người khác mà người được ủy quyền có đủ tài sản và cam kết thi hành thay nghĩa vụ của người ủy quyền; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang.
c) Có sự đồng ý của người được thi hành án;

Thời hạn thi hành án là bao lâu


I. THỜI HẠN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 30 Luật thi hành án dân sự quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án như sau: 
"1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.
Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
2. Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.
3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án".

Kiện đòi lại tài sản là bất động sản


     Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình, được xem như một trong những phương thức bảo vệ quyền cuả chủ sở hữu, nhằm đảm bảo để chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường.   

Giải quyết tranh chấp bằng hợp đồng




Tranh chấp hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng được thể hiện qua nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằngthương lượng, hòa giải, tòa án, trọng tài và các nội dung khác liên quan, cụ thể như sau: 
I. Tranh chấp Hợp đồng:
1. Khái niệm:
Là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ Hợp đồng liên quan đến việc thực hiện (hoặc không thực hiện) các quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng.
Tranh chấp Hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các bên về việc đánh giá hành vi vi phạm hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ vi phạm đó (trong khi vi phạm Hợp đồng là hành vi đơn phương của một bên đã xử sự trái với cam kết trong Hợp đồng).

Kiện thu hồi công nợ bình dương




1. ĐỐI TƯỢNG KHÁCH HÀNG :
Khách hàng yêu cầu kiện đòi nợ gồm :
-  Cá nhân đòi nợ cá nhân
-  Cá nhân đòi nợ tổ chức, doanh nghiệp
-  Tổ chức, doanh nghiệp đòi nợ cá nhân
-  Tổ chức, doanh nghiệp đòi nợ tổ chức, doanh nghiệp
2. CÁC LOẠI NỢ