Trang chủ
»
Luật dân sự
Giải đáp vướng mắc của Tòa án nhân dân tối cao
Vướng mắc 1:
Trường hợp đất đai của hộ gia đình nhưng đã được ông A (một thành viên
trong hộ) lén lút đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó
ông A chuyển nhượng cho ông B; Ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và tiếp tục chuyển nhượng cho ông C. Ông C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Sau đó, các thành viên hộ gia đình phát hiện hiện ra việc kê khai
gian dối để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã khởi kiện yêu cầu Tòa
án tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C. Trường hợp này,
Tòa án chỉ hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C hay hủy cả giấy
chứng nhận đứng tên ông A, ông B.
Trả lời:
Trường hợp này, Tòa án phải xem xét đánh giá về tính hợp pháp của các quyết
định hành chính là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông A, ông B, ông
C. Nếu việc chuyển nhượng đất giữa ông B với ông C là ngay tình và đúng theo
quy định của pháp luật về chuyển nhượng đất thì Tòa án bác yêu cầu khởi kiện hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều
106 của Luật Đất đai và khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự.
Vướng mắc 2:
Văn bản của Văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thông báo ý kiến kết luận
của Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp huyện thu hồi
đất của hộ gia đình (vì cho rằng giao đất không đúng đối tượng) bị khởi kiện.
Tòa án có xác định văn bản này là quyết định hành chính bị khởi kiện hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 66 Luật Đất đai thì việc
thu hồi đất của hộ gia đình thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, mà
không phải thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Theo quy định tại khoản 6 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì: Quyết định hành chính,
hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức là những quyết định,
hành vi chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công
tác; quản lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ
chức.
Theo các quy định trên thì văn bản thông báo ý kiến của Lãnh đạo Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh là văn bản mang tính chất nội bộ của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về
việc chỉ đạo, điều hành của cơ quan, tổ chức, đồng thời văn bản này không làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên căn cứ vào điểm c khoản 1
Điều 30 của Luật Tố tụng hành chính thì quyết định này không thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án.
Vướng mắc 3:
Tranh chấp liên quan đến ranh giới đất (Ví dụ: cấp chồng lấn), một trong
hai bên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Tòa án nhân dân
cấp huyện thụ lý, xem xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 của Tòa án
nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc
về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính thì thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Nếu vậy thì nhiều vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân cấp huyện chuyển lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ dẫn đến quá tải.
Đối với trường hợp nêu trên, Tòa án xác định diện tích, ranh giới đất và
đề nghị Ủy ban nhân dân điều chỉnh diện tích đất phù hợp với thực tế sử dụng mà
không cần hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do vậy, Tòa án nhân dân cấp
huyện giải quyết thì có phù hợp với Công văn số 64/TANDTC-PC hay không?
Trả lời:
Tại mục 1 Phần I của Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 của Tòa án
nhân dân tối cao về giải đáp nghiệp vụ đã hướng dẫn: Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất là quyết định hành chính cá biệt.
Khoản 1 và khoản 2 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “1. Khi giải quyết vụ
việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan,
tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.
2. Quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này là quyết định đã được
ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối
tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải
được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó”.
Như vậy, theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải
quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà trong đó có việc cơ quan nhà nước cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đang tranh chấp không đúng, gây
thiệt hại đến quyền lợi của đương sự thì Tòa án phải xem xét giải quyết việc hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó trong vụ án dân sự và đưa cơ quan cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan.
Khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa
án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức như sau: “Thẩm quyền của cấp
Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định
cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương ứng của
Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án
nhân dân cấp tỉnh”.
Khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính quy định: Tòa án nhân dân cấp
tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi
hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.
Đối tượng hướng dẫn áp dụng theo Công văn số 64/TANDTC-PC là tranh chấp hợp
đồng chuyển quyền sử dụng đất, còn đối tượng tranh chấp trong trường hợp nêu
trên là tranh chấp quyền sử dụng đất. Đây là hai đối tượng tranh chấp khác
nhau. Hơn nữa, pháp luật chỉ quy định thẩm quyền của Tòa án là hủy quyết định
cá biệt hoặc bác yêu cầu khởi kiện của đương sự mà không quy định Tòa án có thẩm
quyền đề nghị cơ quan hành chính nhà nước điều chỉnh quyết định.
Do vậy, đối với tranh chấp liên quan đến ranh giới đất bị cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất chồng lấn, nếu thấy cần thiết phải xem xét việc hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân cấp tỉnh.
Vướng mắc 4:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ (bị đơn) để bảo
đảm thi hành án. Tài sản bị yêu cầu phong tỏa là nhà, đất đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho
bị đơn. Bị đơn đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất này cho người thứ 3 và
hợp đồng được công chứng nhưng chưa được đăng ký vào sổ địa chính. Vậy, Tòa án
có được ra quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản trong trường hợp này
hay không?
Trả lời:
Điều 126 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:“Phong tỏa tài sản của người
có nghĩa vụ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy
người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo
đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án”.
Khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 122 của Luật Nhà ở năm 2014 quy định như sau:
Khoản 1 Điều 12: “Trường hợp mua bán nhà ở mà không thuộc diện quy định tại
khoản 3 Điều này và trường hợp thuê mua nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu
nhà ở là kể từ thời điểm bên mua, bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền
thuê mua và đã nhận bàn giao nhà ở, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
Khoản 1 Điều 122: “Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp
nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công
chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Đối với
các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là
thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng”.
Khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng
đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và
có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”.
Như vậy, theo các quy định trên, cần xác định rõ tài sản mà nguyên đơn
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có
nghĩa vụ là nhà hay là quyền sử dụng đất.
Trường hợp tài sản là nhà ở, theo quy định của pháp luật, thời điểm hợp đồng
mua bán nhà có hiệu lực là thời điểm hợp đồng đó được công chứng, chứng thực,
còn việc chuyển giao quyền sở hữu từ người bán sang người mua là thời điểm bên
mua đã thanh toán đủ tiền và nhận bàn giao nhà. Vì vậy, trường hợp nguyên đơn
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có
nghĩa vụ là nhà ở thuộc quyền sở hữu của bị đơn thì giải quyết như sau: Nếu bị
đơn đã ký hợp mua bán nhà ở với bên mua, hợp đồng đã được Công chứng mà bên mua
đã trả đủ tiền và nhận bàn giao nhà ở từ bên bán thì kể từ thời điểm này nhà ở
đã không còn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị đơn, nên Tòa án không được áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; nếu hợp đồng
mua bán nhà ở giữa bị đơn với người mua đã được công chứng, nhưng người mua
chưa thanh toán đủ tiền mua hoặc chưa nhận nhà từ bên bán bàn giao thì tài sản
đó vẫn còn thuộc quyền sở hữu của bị đơn, nên Tòa án được áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, theo quy định của pháp luật thì
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời đăng ký vào sổ
địa chính. Vì vậy, trường hợp nguyên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là thửa đất thuộc quyền sử dụng của
bị đơn thì giải quyết như sau: Nếu bị đơn đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, hợp đồng đã được công chứng và đã hoàn
thành thủ tục đăng ký vào sổ địa chính thì kể từ thời điểm này thửa đất không
thuộc quyền sử dụng của bị đơn, nên Tòa án không được áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; nếu đã ký hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, hợp đồng đã được công chứng,
nhưng chưa đăng ký vào sổ địa chính thì thửa đất đó vẫn thuộc quyền sử dụng của
bị đơn, nên Tòa án được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của
người có nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vướng mắc 5:
Trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu nhưng bên nhận chuyển
nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và đã thế
chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật.
Vậy giao dịch thế chấp đó có bị vô hiệu không?
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự quy định:
“...2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký
tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch
dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó
mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp
người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức
có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải
là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa. …”
Theo Bản thuyết minh Dự án Bộ luật Dân sự năm 2015 của Ban soạn thảo thì
quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự là nhằm: “...Bảo đảm công bằng,
hợp lý đối với người thiện chí, ngay tình và bảo đảm sự ổn định trong các quan
hệ dân sự (các Bộ luật dân sự trên thế giới đều ghi nhận việc bảo vệ người thứ
ba ngay tình trong giao dịch dân sự)...”. Cho nên, cụm từ “chuyển giao bằng một
giao dịch dân sự khác” tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự phải được áp dụng
theo nghĩa rộng. Có nghĩa là: Không chỉ có những giao dịch nhằm chuyển giao quyền
sở hữu như: Hợp đồng mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn nhà ở; chuyển nhượng, chuyển
đổi, góp vốn bằng quyền sử dụng đất... mà cả những giao dịch nhằm chuyển giao
những quyền về sở hữu đối với tài sản hoặc quyền về sử dụng đối với thửa đất.
Đồng thời, thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm, theo quy định tại
Điều 317 của Bộ luật Dân sự thì nội hàm của thế chấp tài sản là việc người thế
chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với
bên nhận thế chấp mà không giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Tuy nhiên, tại
khoản 6 Điều 320 của Bộ luật Dân sự quy định nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản
là: “Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong
các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 299 của Bộ luật này...”;
khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự quy định quyền của bên nhận thế chấp: “Xử
lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật
này”. Như vậy, mục đích của thế chấp là người có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở
hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp, trong trường
hợp nghĩa vụ đó không được bên thế chấp thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì
phải giao tài sản đã thế chấp cho bên nhận thế chấp xử lý nhằm bảo đảm quyền lợi
của bên nhận thế chấp. Vì vậy, phải xem thế chấp tài sản là một giao dịch chuyển
giao tài sản có điều kiện; để bảo đảm quyền lợi cho bên nhận thế chấp ngay tình
thì phải hiểu quy định “chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác” tại khoản 2
Điều 133 của Bộ luật Dân sự được áp dụng cả trong trường hợp giao dịch về thế
chấp tài sản.
Cho nên, trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu nhưng bên
nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng
đất và đã thế chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của
pháp luật thì giao dịch thế chấp đó không vô hiệu.
Vướng mắc 6:
Trường hợp, trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho quyền
sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đối với thửa đất đó cho người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng
cho quyền sử dụng đất. Sau đó, các bên tranh chấp và Tòa án xét thấy hợp đồng
nói trên bị vô hiệu hoặc chấp nhận yêu cầu hủy bỏ, như vậy khi giải quyết Tòa
án có phải áp dụng Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự đưa những cơ quan đã cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó tham gia tố tụng với tư cách là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã cấp cho người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng
đất không?
Trả lời:
Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng dân sự là giải quyết vụ việc dân sự được
nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân... Trên cơ sở đó, Điều
34 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định khi giải quyết các vụ việc dân sự, mà
trong vụ việc đó có quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền
trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và nội dung của
quyết định đó liên quan đến vụ việc Tòa án giải quyết thì Tòa án phải hủy quyết
định đó để khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
“Quy định này tạo cơ sở cho Tòa án chủ động trong việc hủy quyết định cá
biệt trái pháp luật có ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của đương sự, nhằm giải
quyết vụ việc dân sự một cách chính xác, toàn diện ”. (Mục 3 Bộ luật Tố tụng
dân sự ngày 10-4-2015 của Tòa án nhân dân tối cao).
Tại mục 1 Phần I của Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 của Tòa án
nhân dân tối cao về Giải đáp nghiệp vụ đã hướng dẫn: “Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất là quyết định hành chính...” cá biệt. Như vậy, theo quy định tại Điều
34 của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà
trong đó có việc cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa
đất đang tranh chấp không đúng, gây thiệt hại đến quyền lợi của đương sự thì
Tòa án phải đưa cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tham gia tố tụng
với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và xem xét hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đó.
Tuy nhiên, tại điểm d khoản 2 của Điều 106 của Luật Đất đai quy định cơ
quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất trong trường hợp “...người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực
hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định
của pháp luật đất đai...”. Theo Điều 195 của Luật Đất đai thì trình tự, thủ tục
cấp giấy chứng nhận hoặc xác nhận nội dung biến động do chuyển quyền sử dụng đất
do Chính phủ quy định. Điều 79 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ
quy định việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
chuyển quyền dựa trên cơ sở hồ sơ hợp đồng, Văn phòng đăng ký đất đai có trách
nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì
xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp hoặc lập hồ sơ trình cơ
quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP
ngày 15-5-2014 của Chính phủ thì việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hoặc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng (các trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật Đất đai) là thủ tục hành chính trong
giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực. Cho nên,
khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị
vô hiệu, nhưng người nhận chuyển quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất hoặc đã được xác nhận nội dung biến động thì không đưa cơ quan có thẩm quyền
trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận
cấp cho người nhận chuyển nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng
đất vô hiệu thì Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn
cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa
án.
Vướng mắc 7:
Việc chỉnh lý bản đồ địa chính cấp xã có là đối tượng khởi kiện vụ án
hành chính không? Nếu thuộc đối tượng khởi kiện thì xác định người bị kiện
trong trường hợp này là ai?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 22 và khoản 3 Điều 31 của Luật Đất đai thì
việc khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính thuộc nội dung quản lý nhà nước về
đất đai do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định.
Theo quy định tại khoản 6 Điều 22 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT quy định về bản đồ địa
chính ngày 19-05-2014 và điểm e khoản 5 Điều 2 của Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày
28-8-2014 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở
Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Phòng Tài nguyên và
Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thì Sở Tài nguyên và Môi trường có
trách nhiệm trong việc lập, chỉnh lý và ký duyệt nghiệm thu bản đồ địa chính.
Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên thì bản đồ địa chính cấp xã được
xác định là quyết định hành chính, nếu việc chỉnh lý bản đồ địa chính cấp xã
thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì là
đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Việc lập, chỉnh lý, ký duyệt bản đồ địa chính do Sở Tài nguyên và Môi trường
hoặc do cơ quan, tổ chức khác thực hiện thì người bị kiện được xác định là cơ
quan, tổ chức đã thực hiện việc lập, chỉnh lý, ký duyệt bản đồ địa chính mà người
khởi kiện cho rằng việc chỉnh lý đó xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của
họ theo quy định tại khoản 9 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính.
Vướng mắc 8:
Điều 203 của Luật Đất đai quy định: “3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải
quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết
tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với
nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với
quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành
chính”.
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn
giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với
quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng
hành chính;
Vậy trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần
2 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện tại Tòa án hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 7 của Luật Khiếu nại thì:
“1....Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết
khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết
thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng
hành chính.
3... Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần
hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết
thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng
hành chính.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 (về khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án) của Luật Tố tụng hành chính thì:
“1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định,
hành vi sau đây:
a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước
trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;
b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành
chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;
c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ
quan, tổ chức.”
Như vậy, theo quy định của Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính về
thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì không loại trừ quyết định giải quyết khiếu
nại lần 2 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường trong lĩnh vực đất đai. Do đó, nếu các quyết định này thỏa mãn quy định
tại khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì thuộc đối tượng khởi kiện vụ
án hành chính.
Vướng mắc 9:
Tại mục 2 phần dân sự của Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 của Tòa
án nhân dân tối cao về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến hướng dẫn đối với
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho quyền sử dụng đất mà cơ
quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đó cho
người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng đất thì
Tòa án không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và
không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển nhượng. Vậy,
trong trường hợp người khởi kiện chỉ khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thì Tòa án có thụ lý giải quyết hay không?
Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm đang xem xét, giải quyết vụ án dân sự tranh
chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, thì người khởi kiện thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ đề nghị Tòa án tuyên hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án xử lý trường hợp này như thế nào?
Trả lời:
Tại mục 1 Phần I của Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 giải đáp một
số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng
dẫn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính nếu thuộc một
trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm
2015 thì là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Do đó, trong trường hợp này,
nếu người khởi kiện chỉ khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thì Tòa án vẫn xem xét thụ lý giải quyết vụ án theo quy định của Luật Tố tụng
hành chính.
Đối với trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm đang xem xét, giải quyết vụ án dân
sự tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, người khởi kiện thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ đề nghị Tòa án
tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Tòa án đang xem xét, giải quyết
ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó
trong sổ thụ lý theo quy định tại khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Vướng mắc 10:
Đối với trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp trên cơ sở
hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho quyền sử dụng đất, khi Tòa án xem
xét giải quyết yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Tòa án có xem
xét, quyết định về giá trị pháp lý của hợp đồng về quyền sử dụng đất này hay
không và có đưa những người tham gia ký kết hợp đồng vào tham gia tố tụng với
tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 191 của Luật Tố tụng hành chính thì đối với
vụ án hành chính, Hội đồng xét xử chỉ xem xét, quyết định về các vấn đề sau
đây:
“a) Tính hợp pháp và có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định hành
chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện;
b) Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định
hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính;
c) Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành
vi hành chính;
d) Mối liên hệ giữa quyết định hành chính, hành vi hành chính với quyền
và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người có liên quan;
đ) Tính hợp pháp và có căn cứ của văn bản hành chính có liên quan (nếu
có);
e) Vấn đề bồi thường thiệt hại và vấn đề khác (nếu có)”.
Trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp trên cơ sở hợp đồng
về quyền sử dụng đất thì Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá tính hợp pháp của hợp
đồng về quyền sử dụng đất để làm cơ sở xem xét, đánh giá về tính hợp pháp và có
căn cứ của quyết định hành chính là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên cơ
sở đánh giá, nhận định này, Hội đồng xét xử quyết định bác yêu cầu khởi kiện nếu
yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật, hoặc chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó trái
pháp luật.
Trong trường hợp này, người tham gia ký kết hợp đồng về quyền sử dụng đất
tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án
theo quy định tại khoản 10 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính.
Vướng mắc 11:
Trường hợp vụ án tranh chấp chia tài sản là bất động sản sau khi ly hôn
mà nơi cư trú của bị đơn và nơi có bất động sản tranh chấp khác nhau thì Tòa án
nào có thẩm quyền giải quyết?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp
chia tài sản sau khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì:
“Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có
trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,
lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này”.
Trường hợp này, quan hệ hôn nhân chấm dứt do vợ chồng đã ly hôn, nhưng
tranh chấp tài sản sau ly hôn vẫn là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định
tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên căn cứ các quy định nêu trên thì
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết.
Vướng mắc 12:
Trong vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người có quyền và nghĩa vụ
liên quan đang ở nước ngoài nhưng nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí ủy
thác ra nước ngoài theo quy định. Tòa án căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Trường
hợp này, Tòa án có phải ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 152 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì
nguyên đơn, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc đương sự khác phải nộp
tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài khi yêu cầu của họ làm phát
sinh việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Đối với trường hợp nêu trên, nguyên
đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác ra nước ngoài và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ở nước ngoài không biết có việc Tòa án ở Việt Nam đang thụ
lý vụ án. Do đó, Tòa án không phải ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ở nước ngoài.
Vướng mắc 13:
Trường hợp khởi kiện đối với việc trả lại hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng
đất của Phòng Tài nguyên và Môi trường với lý do vị trí đất nằm trong khu quy
hoạch thì xác định người bị kiện là Phòng Tài nguyên và Môi trường hay Ủy ban
nhân dân cấp huyện?
Trả lời:
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 59 Luật đất đai thì Ủy ban nhân dân
huyện có thẩm quyền: “Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng
đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất,
cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương
mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận
của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định”.
Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29-7-2011 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố
tụng hành chính năm 2011 thì để xác định quyết định hành chính, hành vi hành
chính bị kiện là đối tượng khởi kiện thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật
về thẩm quyền.
Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cụ thể là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, nhưng do người
trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác đó thực hiện theo sự
phân công hoặc ủy quyền, ủy nhiệm thì hành vi đó là hành vi hành chính của cơ
quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác mà không phải là hành vi hành
chính của người đã thực hiện hành vi hành chính đó.
Theo hướng dẫn tại Điều 4 và khoản 4 Điều 5 Thông tư liên tịch số
50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28-8-2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội
vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên
và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,
Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh, thì Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp
huyện quản lý nhà nước như thẩm định hồ sơ về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,
chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các đối tượng
thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Theo quy định và hướng dẫn nêu trên, Phòng Tài nguyên và Môi trường là
đơn vị thực hiện thẩm tra hồ sơ theo chức năng, nhiệm vụ được giao giúp Ủy ban
nhân dân huyện xem xét, quyết định việc công dân xin chuyển mục đích sử dụng đất.
Do đó, trong trường hợp này, Tòa án xác định người bị kiện là Ủy ban nhân dân cấp
huyện.
Căn cứ pháp lý:
- Công văn 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020. (Giải đáp vướng mắc 1, 2,
3, 4).
- Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/04/2019 (Giải đáp vướng mắc
5, 6, 7).
- Công văn 212/TANDTC-PC ngày 13/09/2019 (Giải đáp vướng mắc 8,
9, 10, 11).
- Văn bản 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017 (Giải đáp vướng mắc
12, 13).
Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng
Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ
đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý
một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn.
Hợp đồng vay tài sản vừa có thỏa thuận phạt vi phạm, vừa có thỏa thuận
lãi trên nợ gốc quá hạn hoặc hình thức khác áp dụng đối với hành vi không trả
nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án căn cứ quy định tương ứng của Bộ luật Dân
sự, Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết,
hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác
lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất để xem xét, quyết định xử lý đối với hành
vi không trả nợ đúng hạn.
Quy trình xử lý việc không trả nợ đúng hạn được hướng dẫn chi tiết tại bài viết:
➤➤➤Kiện thu hồi công nợ Bình Dương
Quy trình xử lý việc không trả nợ đúng hạn được hướng dẫn chi tiết tại bài viết:
➤➤➤Kiện thu hồi công nợ Bình Dương
Pháp luật về đất đai qua các thời kỳ
1.1.
Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến giai đoạn có Luật Đất đai 1987
Từ bản Cương lĩnh đầu
tiên năm 1930, Đảng ta đã nhận định “Có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được
cái giai cấp địa chủ và làm Cách mạng thổ địa được thắng lợi”. Xuất phát từ nhận
định đúng đắn này, Đảng ta đã giương cao khẩu hiệu “Tịch ký hết thảy ruộng đất
của bọn địa chủ ngoại quốc, bốn xứ và các giáo hội, giao ruộng ấy cho trung và
bần nông”. Trong Luận cương chính trị năm 1930, Đảng ta đã xác định “Quyền sở hữu
(QSH) ruộng đất thuộc về chánh phủ công nông”.
Nghị quyết 02/2016 Hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Tố tụng hành chính
HỘI ĐỒNG THẨM
PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO -------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- |
Số: 02/2016/NQ-HĐTP
|
Hà Nội, ngày 30
tháng 6 năm 2016
|
NGHỊ
QUYẾT
HƯỚNG
DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 103/2015/QH13 NGÀY 25-11-2015
CỦA QUỐC HỘI VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ
104/2015/QH13 NGÀY 25-11-2015 CỦA QUỐC HỘI VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT TỐ TỤNG HÀNH
CHÍNH
HỘI
ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật tổ chức Tòa án
nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự
số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Căn cứ Luật tố tụng hành
chính số 93/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Để áp dụng đúng và thống nhất
một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015, Nghị
quyết số 104/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Sau khi có ý kiến thống nhất
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
QUYẾT
NGHỊ:
Điều 1. Áp dụng pháp luật tố tụng dân sự
và tố tụng hành chính để giải quyết vụ việc dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, vụ án hành chính
1. Kể từ ngày Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01-7-2016), Tòa án áp dụng quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị quyết số 103/2015/QH13 để giải
quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ việc dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trừ các trường
hợp quy định tại Khoản 1 Điều 517 Bộ luật tố tụng dân sự
số 92/2015/QH13 thì được áp dụng từ ngày 01-01-2017.
2. Kể từ ngày Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01-7-2016), Tòa
án áp dụng quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị
quyết số 104/2015/QH13 để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án hành chính, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 371 Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 thì được áp dụng từ ngày 01-01-2017.
Tòa án có thẩm quyền "bỏ quên" yêu cầu khởi kiện của đương sự.
Ngày 27/8/2016, Công ty Cổ phần A và Công ty TNHH Khảo sát
và Kiểm định Xây dựng Đức Mỹ có ký các hợp đồng mua bán hàng hóa (gọi tắt là hợp đồng). Tổng giá trị Hợp đồng Các Bên đã ký
là: 957.920.620 VNĐ (Chín trăm năm mươi bảy triệu chín trăm hai mươi
nghìn sáu trăm hai mươi đồng).
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Cổ phần A đã hoàn thành toàn
bộ nghĩa vụ của mình đối với hợp đồng
trên. Tuy nhiên Công ty TNHH Khảo sát và Kiểm định Xây dựng Đức Mỹ mới chỉ
thanh toán 674.000.000 VNĐ và còn phải thanh toán là 281.637.447 VNĐ. Sau nhiều
lần liên hệ nhưng không nhận được thiện chí từ phía Công ty TNHH Khảo sát và
Kiểm định Xây dựng Đức Mỹ nên Công ty Cổ phần A đã tiến hành khởi kiện
tại Tòa án nhân dân (goi tắt là TAND) thành phố Rạch Gía, tỉnh Kiên Giang. Điều
đáng nói là Tòa án nhân dân TP Rạch giá dù tiếp nhận đơn nhưng không thực hiện
việc xem xét giải quyết theo yêu cầu của đương sự.
Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của HĐTP TANDTC Hướng dẫn trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO ------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- |
Số: 04/2017/NQ-HĐTP
|
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2017
|
NGHỊ
QUYẾT
HƯỚNG DẪN
MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 1 VÀ KHOẢN 3 ĐIỀU 192 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ SỐ
92/2015/QH13 VỀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN, QUYỀN NỘP ĐƠN KHỞI KIỆN LẠI VỤ ÁN
HỘI ĐỒNG
THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày
24 tháng 11 năm 2014;
Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy
định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự ngày 25 tháng 11
năm 2015;
Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và Bộ
trưởng Bộ Tư pháp,
QUYẾT
NGHỊ:
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Nghị quyết này
hướng dẫn một số quy định về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại
vụ án tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số
92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 (sau đây gọi tắt là Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015).
Điều 2. Về người khởi kiện không có quyền khởi kiện
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015
Người khởi kiện
không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
1. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều
186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
a) Cơ quan, tổ
chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều
186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện
không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp
pháp;
b) Cơ quan, tổ
chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều
187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện
không thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.
Ví dụ: Tổ chức A
(không phải là tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo
quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng năm 2010) cho rằng Công ty B bán hàng hóa không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng như đã công bố, niêm yết,
quảng cáo hoặc cam kết dẫn đến việc chị C (người tiêu dùng) mua sử dụng bị thiệt hại nên Tổ
chức A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty B bồi thường thiệt hại cho
chị C. Trường hợp này, Tổ
chức A không có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 3 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2. Yêu cầu khởi
kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng
đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị
xâm phạm hoặc cần bảo vệ.
Ví dụ: Cụ A chết
năm 2010, để lại di sản là căn nhà X nhưng không có di chúc và không có thỏa
thuận khác. Cụ A có con là ông B (còn sống, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều
621 Bộ luật dân sự năm 2015). Trường hợp này, theo quy định của pháp luật
về thừa kế thì anh C là con
của ông B không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ A theo pháp luật.
Điều 3. Về chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
1. Chưa có đủ
điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng
dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá
nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi
ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu
một trong các điều kiện đó.
Ví dụ: Công ty A
là người sử dụng lao động ký hợp đồng với ông B, trong hợp đồng ghi rõ ông B sẽ
được Công ty cho đi học nghề 01 năm, đồng thời ông B có nghĩa vụ làm việc tại
Công ty ít nhất là 05 năm kể từ thời điểm học xong. Tuy nhiên, sau khi học xong
ông B chỉ làm việc ở Công ty A 02 năm. Công ty A khởi kiện ông B ra Tòa án buộc
ông B hoàn trả chi phí đào tạo học nghề khi chưa tiến hành thủ tục hòa giải của
hòa giải viên lao động. Trường hợp này, theo quy định tại Điều
201 Bộ luật lao động năm 2012, khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015 thì Công ty A chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án.
2. Đối với tranh
chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều
202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi
kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015.
Đối với tranh
chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên
quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài
sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.
Điều 4. Về vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015
Vụ án không
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là trường hợp mà theo quy định của pháp
luật thì các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,
lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết.
Ví dụ: Theo quy
định tại khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì tranh
chấp đất đai mà đối với thửa đất đó cơ quan, tổ chức, cá nhân không có Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định
tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 có quyền lựa chọn Tòa án
nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc
Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3
Điều 203 Luật đất đai năm 2013 để giải quyết tranh chấp. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã nộp đơn yêu
cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và cơ quan đó
đang giải quyết tranh chấp thì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Điều 5. Về địa chỉ của người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan
1. “Địa chỉ nơi
cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được
xác định như sau:
a) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn
quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ
chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường
trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú;
b) Nếu người bị
kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài đang cư trú
tại Việt Nam thì nơi cư trú của họ được xác định theo quy định của Luật Nhập
cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;
c) Nếu người bị
kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài, người Việt
Nam đang cư trú ở nước ngoài thì nơi cư trú của họ được xác định căn cứ vào tài
liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ do cơ
quan có thẩm quyền cấp, xác nhận;
d) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là cơ quan, tổ chức có quốc tịch Việt Nam thì địa chỉ của cơ quan,
tổ chức được xác định là nơi cơ quan, tổ chức đó có trụ sở chính hoặc chi nhánh
theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp
luật;
Trường hợp cơ quan,
tổ chức có quốc tịch nước ngoài thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định
căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu,
chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận.
2. Người khởi
kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người
bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định
của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện
mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng
minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi
đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy
định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015.
3. Địa chỉ “nơi
cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại điểm đ, e khoản 4
Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là địa chỉ người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở mà người
khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh.
Điều 6. Xử lý
việc ghi địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Trường hợp
trong đơn khởi kiện người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị
kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết này thì Tòa án phải
nhận đơn khởi kiện và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.
2. Trường hợp
sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tổng đạt được thông báo về việc thụ
lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú,
làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án
giải quyết như sau:
a) Trường hợp
trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú,
làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được
coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”.
Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi
cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư
trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3
Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố
tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không
đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tổng đạt được cho bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
b) Trường hợp
trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi có trụ
sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ
chức theo hướng dẫn tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị quyết này thì được coi là
“đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ trụ sở”. Trường hợp cơ quan, tổ chức thay đổi trụ sở mà không công bố công khai theo
quy định tại khoản 1 Điều 79 Bộ luật dân sự năm 2015 thì
được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ
tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan;
c) Trường hợp
không thuộc điểm a, b khoản 2 Điều này mà Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp
địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nguyên đơn
không cung cấp được thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới
của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định
tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.
Trường hợp sau
khi thụ lý vụ án mà phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án
yêu cầu nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập cung cấp địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đó. Nếu nguyên đơn,
bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập không cung cấp được địa chỉ thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác
minh địa chỉ theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án không xác định được
địa chỉ thì đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố
của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có liên
quan đến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đó theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trừ
trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.
3. Tòa án vẫn
tiếp tục giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với vụ án
tranh chấp về thừa kế tài sản có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc
diện thừa kế mà nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ và Tòa án đã tiến hành
các biện pháp để thu thập, xác minh địa chỉ theo đúng quy định của pháp luật
nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của người đó thì Tòa án vẫn giải quyết vụ
án theo quy định của pháp luật. Phần tài sản mà người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm được địa chỉ được nhận thì Tòa án tạm
giao cho người thân thích của người đó hoặc người thừa kế khác quản lý. Quyền,
nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm
được địa chỉ sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu;
b) Các trường
hợp quy định tại điểm b, c khoản 5 và điểm c khoản 6 Điều 477
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
c) Các trường
hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp vụ
án bị đình chỉ giải quyết theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều này thì theo
quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015, người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án đó khi cung cấp được đầy
đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Điều 7. Quyền
nộp đơn khởi kiện lại vụ
án quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015
1. Người khởi
kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án khi thuộc một trong các trường hợp
quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 và các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.
2. Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không quy
định căn cứ trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết, vì vậy,
Tòa án không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết để trả lại đơn khởi kiện.
Trường hợp kể từ ngày 01-01-2012, Tòa án trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời
hiệu khởi kiện đã hết và thời hạn giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả
lại đơn khởi kiện đã hết mà đương sự có yêu cầu khởi kiện lại vụ án đó thì Tòa
án xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.
3. "Các trường hợp khác theo quy định của pháp
luật" quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015 là các trường hợp trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
chưa quy định nhưng đã được quy định trong Nghị quyết này, các văn bản quy phạm
pháp luật khác hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
"Các trường
hợp khác theo quy định của pháp luật" quy định trong Nghị quyết này là:
a) Đối với những
vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01-01-2017, Tòa án đã
trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại
đơn khởi kiện vì lý do "thời hiệu khởi kiện đã hết" nhưng theo quy định tại khoản
1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thời hiệu khởi
kiện vụ án đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án
theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm
2015 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015.
Đối với những vụ
án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01-01-2017 đã được Tòa án
giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì theo quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện không có
quyền nộp đơn khởi kiện lại
vụ án đó;
b) Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết
thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01-01-2017 Tòa án đã ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khởi
kiện chia tài sản chung, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều
623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ
án chia thừa kế đối với di sản thừa kế đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền
nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 688 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015 và Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là
di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày
01-01-2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực
pháp luật thì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện
lại vụ án đó;
c) Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị quyết này.
Điều 8. Hiệu lực thi hành
1. Nghị quyết
này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng
4 năm 2017 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2017.
2. Đối với những
vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động mà Tòa án
đã thụ lý trước khi Nghị quyết này có hiệu lực thi hành nhưng chưa xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm hoặc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để giải quyết.
3. Đối với bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị quyết này có
hiệu lực thi hành thì không áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm.
4. Trong quá
trình triển khai thi hành, nếu có vướng mắc hoặc đề xuất, kiến nghị thì phản
ánh về Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để
có hướng dẫn kịp thời.
Nơi nhận: - Ủy ban Thường vụ Quốc hội; - Ủy ban Pháp luật của Quốc hội; - Ủy ban Tư pháp của Quốc hội; - Ban Chỉ đạo CCTPTƯ; - Ban Nội chính Trung ương; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Văn phòng Chính phủ (02 bản); - Viện kiểm sát nhân dân tối cao; - Bộ Tư pháp; - Các Thẩm phán TANDTC; - Các đơn vị thuộc TANDTC; - Các TAND và TAQS các cấp; - Lưu: VT, Vụ PC&QLKH. |
TM.
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
CHÁNH ÁN Nguyễn Hòa Bình |






