> Luật Lâm Vinh Tư vấn pháp luật Bình Dương: Luật hình sự

Luật Lâm Vinh - Tư vấn luật miễn phí

M

Chia tay đòi quà, coi chừng có dấu hiệu hình sự


Dùng vũ lực để "đòi quà"
Mới đây, Công an quận Thủ Đức, TP.HCM đã lập hồ sơ điều tra vụ "chia tay đòi quà" có dấu hiệu cướp tài sản xảy ra ở phường Bình Chiểu, Thủ Đức.
Theo thông tin ban đầu, giữa năm 2018, chị Tr. (28 tuổi, ngụ tỉnh TG, tạm trú quận Thủ Đức) và T. (28 tuổi, ngụ quận Thủ Đức, tạm trú tỉnh Bình Dương) có mối quan hệ yêu đương. Trong thời gian quen nhau, T. có mua cho chị Tr. chiếc điện thoại di động và xe máy.
Sau đó, hai người phát sinh mâu thuẫn và chia tay. Thấy chị Tr. muốn chấm dứt mối quan hệ nên T. đòi lại chiếc điện thoại di động và xe máy đã mua cho Tr. Đến sáng 21-3, T. đi cùng với nhiều người khác đến nhà trọ chị Tr. đánh chị Tr. và lấy lại điện thoại di động và xe máy.
Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng làm rõ. Tuy nhiên, câu chuyện trên đã khiến nhiều người đặt ra câu hỏi: vậy ứng xử khi chia tay thế nào để không phạm luật?
Trong quan hệ xã hội, cả nam và nữ thể hiện tình cảm tặng quà cho nhau là việc bình thường. Khi đã tặng rồi thì vật phẩm đó thuộc sở hữu của người được tặng. Dù bất cứ trường hợp nào, chia tay hay không, thì lúc này tài sản đã thuộc sở hữu của người được tặng. Người tặng không có quyền ngang nhiên lấy lại tài sản dưới bất cứ hành vi nào.
Trong trường hợp trên, nếu sự việc đúng là T. ngang nhiên vào nơi ở của Tr., dùng vũ lực đánh chị Tr. rồi lấy điện thoại đi dộng đang để trên giường, nhóm người đi cùng T. tiếp tục lấy chiếc xe máy mà chị Tr. để trước cửa phòng trọ thì hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân của Tr. Ngoài ra còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của chị Tr. thì pháp luật điều chỉnh trường hợp này.

Khái niệm, nhiệm vụ và các nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam




I.Khái niệm:
            1/ Định nghĩa: Luật hình sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, bao gồm các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm đồng thời quy định hình phạt đối với những tội phạm ấy.
            (Chỉ có luật hình sự mới quy định tội phạm và hình phạt)
         Hiện nay, luật hình sự vẫn giữ vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Bằng việc quy định các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc có thể áp dụng đối với các vi phạm pháp luật nguy hiểm nhất xâm phạm các điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước, của chế độ và lợi ích hợp pháp của công dân.
            Cấu tạo của luật hình sự: Bộ luật hình sự: chương, mục, điều, khoản, điểm
2/ Đối tượng điều chỉnh:
Luật hình sự không điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nó chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh khi có tội phạm xảy ra. Trong quan hệ pháp luật hình sự, có hai chủ thể với những vị trí khác nhau:
Thứ nhất: Nhà nước với tư cách là người bảo vệ luật pháp, bảo vệ lợi ích của toàn xã hội. Nhà nước có quyền truy tố, xét xử người phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra. Mặt khác, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các lợi ích hợp pháp của người phạm tội. Quyền chủ thể của Nhà nước trong quan hệ pháp luật hình sự do các cơ quan đại diện của nhà nước thực hiện
Thứ hai: Người phạm tội có trách nhiệm chấp hành các biện pháp cưỡng chế mà Nhà nước áp dụng đối với mình và mặt khác họ có quyền yêu cầu Nhà nước đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự Việt Nam là quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm
Thông qua việc điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh do việc thực hiện tội phạm, luật hình sự Việt Nam tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội được Nhà nước bảo vệ phát triển, tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm.
3/ Phương pháp điều chỉnh:
Luật hình sự điều chỉnh quan hệ pháp luật bằng phương pháp quyền uy. Đó là phương pháp sử dụng quyền lực nhà nước trong việc điều chỉnh quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người phạm tội. Nhà nước có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ đã gây ra. Nhà nước có quyền áp dụng biện pháp hình sự đối với người phạm tội mà không bị bất kì sự cản trở của cá nhân hay của xã hội. Người phạm tội phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về tội phạm đã gây ra, họ phải chấp hành hình phạt mà Nhà nước áp dụng đối với họ. Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm thuộc về cá nhân người phạm tội, phải do chính người phạm tội gánh chịu một cách trực tiếp mà không thể chuyển giao hay ủy thác cho người khác.
II. Những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam:
Các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự chính là những tư tưởng chỉ đạo của toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng các quy định của luật hình sự vào đấu tranh phòng chống tối phạm, những nguyên tắc đó là:
1/ Nguyên tắc pháp chế XHCN:
Nguyên tắc này yêu cầu sự triệt để tuân thủ pháp luật từ phía Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân.
Trong lĩnh vực luật hình sự, nguyên tắc pháp chế được coi là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt toàn bộ hoạt động xây dựng cũng như áp dụng luật hình sự, nguyên tắc này yêu cầu:
+ Đối với cơ quan lập pháp: Việc quy định tội mới, sửa đổi, bổ sung tội phạm hay hủy bỏ tội phạm phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Những hành vi phạm tội và chịu hình phạt phải được luật hình sự quy định. Nhà nước không chấp nhận bản án hình sự về tội không được quy định trong luật hình sự hiện hành
+ Việc xét xử hình sự phải đúng người, đúng tội. Không hành vi phạm tội nào không bị xử lí theo luật hình sự, không được xử oan người vô tội. Hình phạt mà tòa tuyên án phải phù hợp với các quy định trong luật hình sự. Nguyên tắc này cũng đòi hỏi sự chính xác và thống nhất trong việc áp dụng luật hình sự. Các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử khi tiến hành các hoạt động của mình phải căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành. Mọi sự tùy tiện trong điều tra, truy tố, xét xử đều bị coi là vi phạm nghiêm trọng pháp chế XHCN
2/ Nguyên tắc dân chủ XHCN:
Nguyên tắc này thể hiện:
+ Luật hình sự bảo vệ và tôn trọng các quyền dân chủ của công dân trong tất cả các mặt của đời sống. Quyền lợi của công dân được bảo vệ như nhau, không phân biệt nòi giống, dân tộc, thành phần xuất thân, địa vị xã hội, tình trạng tài sản.
+ Không phân biệt đối xử, không quy định những đặc quyền, đặc lợi cho riêng tầng lớp công dân nào.
+ Đảm bảo cho nhân dân lao động tự mình hay thông qua các tổ chức xã hội tham gia vào việc xây dựng và áp dụng luật hình sự đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
+ Xử lí nghiêm minh các hành vi phạm tội, đặc biệt đối với những trường hợp cố ý phạm tội gây thiệt hại lớn cho Nhà nước, cho xã hội và cho công dân.
+ Chuyên chính với các phần tử phạm tội có tổ chức, có hệ thống, không chịu cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời khoan hồng đối với người nhất thời phạm tội, phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt.
Cùng với nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc này góp phần phát huy hiệu quả của luật hình sự trong đấu tranh phòng chống tội phạm, duy trì kỉ cương và công lí xã hội.
3/ Nguyên tắc nhân đạo XHCN:
Đối với người phạm tội, việc áp dụng hình phạt chủ yếu là nhằm mục đích cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội. Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam không nhằm mục đích gây đau đớn về thể xác và không nhằm hạ thấp phẩm giá con người.
Luật hình sự Việt Nam khoan hồng đối với người tự thú, thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại. Luật hình sự Việt Nam có nhiều quy định nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo như quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện…
Trong hệ thồng hình phạt của luật hình sự Việt Nam có nhiều loại hình phạt không tước tự do. Hình phạt tù chung thân và tử hình chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và phạm vi áp dụng có giới hạn (không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, phụ nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi…)
4/ Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản:
+ Luật hình sự Việt Nam trừng trị các hành vi phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược, chống loài người và can thiệp vào công việc nội bộ các nước khác
+ Luật hình sự Việt Nam ghi nhận và đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế của Nhà nước trong cuộc đấu tranh chung của loài người tiến bộ chống các hành vi gây chiến tranh, chống các tội ác diệt chủng, diệt sinh cũng như các tội phạm quốc tế khác
Tóm lại, nguyên tắc kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước và tinh thần
 quốc tế vô sản là sự thể hiện chính sách đối ngoại tiến bộ của luật hình sự Việt Nam.
            III. Hiệu lực của luật hình sự:
            1/ Hiệu lực theo không gian:
            a) Đối với hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam: Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, luật hình sự Việt Nam có hiệu lực đối với mọi hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam bất kể người thực hiện hành vi đó là người Việt Nam, người nước ngoài hay người không quốc tịch.
            Có 3 trường hợp:
            + Hành vi phạm tội bắt đầu và kết thúc ở Việt Nam
            + Hành vi phạm tội bắt đầu ở Việt Nam và kết thúc ở nước ngoài.
            + Hành vi phạm tội bắt đầu ở nước ngoài và kết thúc ở Việt Nam.
            Nguyên tắc chủ quyền quốc gia có ngoại lệ đối với trường hợp người phạm tội được hưởng quyền miễn trừ tư pháp (những người đứng đầu nhà nước, các thành viên của chính phủ, những người đứng đầu các cơ quan ngoại giao, các thành viên của đoàn ngoại giao như đại sứ, tham tán đại sứ, tùy viên…và vợ chồng hoặc con chưa thành niên của những người nói trên), khoản 2 điều 5 BLHS.
            Lãnh thổ Việt Nam dưới góc độ luật hình sự bao gồm cả đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài, tàu của Việt Nam đang đi lại trên biển khơi, máy bay dân dụng mang cờ hiệu Việt Nam đang trên đường bay, hoặc tàu chiến và máy bay quân sự của nước CHXHCN Việt Nam ở bất cứ nơi nào. Khái niệm lãnh thổ ở đây được hiểu theo giác độ chủ quyền quốc gia về phương diện pháp lí.
            b) Đối với hành vi phạm tội xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam:
            Xuất phát từ nguyên tắc quốc tịch, luật hình sự Việt Nam có hiệu lực đối với người có quốc tịch Việt Nam phạm tội ở nước ngoài.
            Đối với người nước ngoài, người không có quốc tịch nếu thường xuyên cư trú làm ăn sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam nếu phạm tội ở nước ngoài thì vẫn có thể bị xử lí về hình sự theo luật hình sự Việt Nam, nếu họ phạm những tội được qui định trong những điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia kí kết hoặc công nhận như tội phạm chiến tranh, tội diệt chủng, tội chống loài người, tội gây chiến tranh xâm lược (thông qua toà án hình sự quốc tế được 100 nước thông qua 01/07/01 nhưng Việt Nam chưa tham gia).
            2/ Hiệu lực theo thời gian:
            Bộ luật hình sự hiện hành (bộ luật hình sự năm 1999) được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 có hiệu lực từ ngày 1/7/2000. Theo luật hình sự Việt Nam, đạo luật hình sự chỉ có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội xảy ra trong khi đạo luật đó đang có hiệu lực thi hành (khoản 1 điều 7 BLHS)
            Hiệu lực hồi tố (trường hợp ngoại lệ của hiệu lực của bộ luật hình sự)
            Điều 7 khoản 3 bộ luật hình sự: Về nguyên tắc, 1 đạo luật hình sự chỉ có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội xảy ra trong khi nó có hiệu lực thi hành và trước khi hết hiệu lực. Bản chất của trường hợp hiệu lực hồi tố là đạo luật hình sự có hiệu lực với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước khi đạo luật hình sự đó được ban hành và có hiệu lực. Nếu áp dụng hiệu lực hồi tố sẽ vi phạm pháp chế nghiêm trọng vì vậy hiện nay luật hình sự Việt Nam chỉ cho phép áp dụng hiệu lực hồi tố trong những trường hợp có lợi cho bị cáo (người phạm tội) “điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn TNHS, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người  phạm tội thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”
            IV. Giải thích đạo luật hình sự: Giải thích đạo luật hình sự là làm sáng tỏ một cách chính xác nội dung và ý nghĩa của các điều luật.
            1/ Gải thích chính thức: Giải thích chính thức là giải thích của cơ quan nhà nước được luật giao cho tiến hành (UBTV Quốc hội có quyền giải thích)
Sự giải thích của UBTV Quốc hội có tính chất bắt buộc đối với tất cả các cơ quan nhà nước và mọi công dân
            2/ Giải thích của cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tối cao cũng như tòa án nhân dân các cấp khi xét xử các vụ án cụ thể có trách nhiệm giải thích luật. Sự giải thích luật của tòa án khi xét xử vụ án cụ thể có giá trị bắt buộc trong phạm vi hiệu lực của bản án. Giải thích luật của tòa án nhân dân tối cao có giá trị bắt buộc đối với các tòa án cấp dưới.
            3/ Giải thích có tính chất khoa học: Đây là sự giải thích của luật gia, cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ làm công tác thực tiễn…trong bài báo, báo cáo khoa học, sách giáo khoa. Sự giải thích này không có giá trị bắt buộc nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao kiến thức cho cán bộ tư pháp
            V. Nguyên tắc tương tự về luật:
            Luật hình sự Việt Nam trước đây do chưa hoàn thiện nên đã cho phép áp dụng nguyên tắc tương tự về luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên việc áp dụng nguyên tắc này đòi hỏi phải chặt chẽ và tuân thủ các điều kiện nhất định.
 Hiện nay, luật hình sự Việt Nam không cho phép áp dụng nguyên tắc tương tự. Điều 2 cũng như điều 8 đã khẳng định rõ điều này.



Nghị định sô 52/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 của Chính phủ hướng dẫn biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng

CHÍNH PHỦ
********
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Số: 52/2001/NĐ-CP
Hà Nội, ngày 23 tháng 8 năm 2001


NGHỊ ĐỊNH
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 52/2001/NĐ-CP NGÀY 23 THÁNG 8 NĂM 2001 HƯỚNG DẪN THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐƯA VÀO TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Để thi hành biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng quy định tại Điều 70 của Bộ Luật Hình sự năm 1999 và các Điều 277 và 279 của Bộ Luật Tố tụng hình sự ngày 09 tháng 6 năm 2000;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
NGHỊ ĐỊNH :
Chương 1:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
1. Biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên phạm tội (sau đây viết gọn là biện pháp giáo dưỡng) được quy định trong Bộ Luật Hình sự, là biện pháp do Toà án quyết định, áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với họ, nhưng do tính chất của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần phải đưa người đó vào trường giáo dưỡng.
2. Người được đưa vào trường giáo dưỡng phải chịu sự giám sát, quản lý, giáo dục của nhà trường và phải học tập, rèn luyện, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, hướng dẫn của cán bộ, giáo viên trường giáo dưỡng. Người đang chấp hành biện pháp giáo dưỡng được gọi là học sinh trường giáo dưỡng (sau đây viết gọn là học sinh).
3. Thời hạn chấp hành biện pháp giáo dưỡng từ một năm đến hai năm, được tính từ ngày người phải chấp hành biện pháp giáo dưỡng được tiếp nhận vào trường giáo dưỡng.
Điều 2.
1. Nơi chấp hành biện pháp giáo dưỡng là các trường giáo dưỡng được tổ chức theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Trường giáo dưỡng có nhiệm vụ quản lý, giáo dục đạo đức, pháp luật, văn hoá, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp và tổ chức lao động cho học sinh phù hợp với lứa tuổi, nhằm giúp họ học tập, rèn luyện tiến bộ, phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần, trí tuệ để trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, có khả năng hoà nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dưỡng.
Điều 3. Việc thi hành biện pháp giáo dưỡng phải bảo đảm đúng đối tượng và theo quy định của Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Tố tụng hình sự và Nghị định này.
Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản của học sinh.
Chương 2:
THỦ TỤC THI HÀNH BIỆN PHÁP GIÁO DƯỠNG
Điều 4.
1. Ngay sau khi nhận được quyết định thi hành biện pháp giáo dưỡng của Toà án, cơ quan Công an cùng cấp có trách nhiệm :
a) Triển khai kế hoạch phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan, chính quyền địa phương và gia đình người phải chấp hành biện pháp giáo dưỡng để quản lý, giám sát họ chặt chẽ;
b) Tổ chức thi hành quyết định của Toà án.
2. Trường hợp người đã có quyết định thi hành biện pháp giáo dưỡng mà bỏ trốn thì Công an cấp huyện nơi người đó cư trú phải ra quyết định tổ chức truy tìm và đưa người đó vào trường.
3. Khi phát hiện người phải chấp hành biện pháp giáo dưỡng bỏ trốn đang bị truy tìm, mọi cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm báo cho cơ quan Công an hoặc chính quyền nơi gần nhất. Khi tiếp nhận, lưu giữ người đó, cơ quan Công an phải lập biên bản và đưa ngay họ vào trường giáo dưỡng.
Điều 5. Hồ sơ đưa người vào trường giáo dưỡng gồm :
Lý lịch cá nhân;
Danh bản, chỉ bản;
Phiếu khám sức khoẻ;
Quyết định thi hành biện pháp giáo dưỡng của Toà án;
Văn bản của cơ quan Công an có thẩm quyền chỉ định trường giáo dưỡng có trách nhiệm thi hành quyết định của Toà án;
Các tài liệu khác có liên quan đến nhân thân người được đưa vào trường giáo dưỡng (nếu có).
Điều 6.
1. Người phải chấp hành biện pháp giáo dưỡng có thể được tạm hoãn thi hành biện pháp này nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây :
a) Đang ốm nặng, đang phải cấp cứu hoặc vì lý do sức khoẻ khác mà không thể đi lại được và được cơ quan y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên chứng nhận;
b) Có lý do chính đáng khác cản trở việc thi hành biện pháp giáo dưỡng được Trưởng Công an cấp huyện xác nhận.
2. Việc tạm hoãn thi hành biện pháp giáo dưỡng chỉ được thực hiện khi có quyết định của Toà án đã ra quyết định thi hành biện pháp giáo dưỡng.
3. Công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Toà án đã ra quyết định thi hành biện pháp giáo dưỡng về trường hợp người phải chấp hành biện pháp giáo dưỡng thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều này hoặc trường hợp người được tạm hoãn thi hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng không còn lý do để tạm hoãn, để Toà án xem xét, quyết định việc tạm hoãn hoặc tiếp tục thi hành biện pháp giáo dưỡng.
Điều 7.
1. Người trực tiếp nhận người được đưa vào trường giáo dưỡng, phải kiểm tra hồ sơ, căn cước và lập biên bản giao nhận.
2. Trường giáo dưỡng có trách nhiệm lập hồ sơ cá nhân học sinh để theo dõi quá trình chấp hành biện pháp giáo dưỡng của họ; định kỳ hàng quý, 6 tháng, năm phải báo cáo cơ quan quản lý trường giáo dưỡng của Bộ Công an về tình hình quản lý, giáo dục học sinh.
Điều 8. Trong thời hạn chậm nhất là 7 ngày kể từ ngày nhận học sinh, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải thông báo cho cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của học sinh, Toà án đã ra quyết định thi hành biện pháp giáo dưỡng, Công an cấp huyện và cấp xã nơi người đó đã cư trú.
Chương 3:
CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI HỌC SINH TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG
Điều 9.
1. Học sinh phải chịu sự giám sát, quản lý, giáo dục, phân công lao động của cán bộ, giáo viên nhà trường và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy của nhà trường.
2. Căn cứ vào độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá, tính chất và mức độ phạm tội, trường bố trí học sinh thành các đội, lớp. Mỗi đội, lớp phải có cán bộ, giáo viên của trường trực tiếp phụ trách.
Điều 10. Nếu học sinh bỏ trốn, Hiệu trưởng phải huy động cán bộ, giáo viên, nhân viên truy tìm ngay và thông báo bằng văn bản cho Công an cấp huyện nơi trường đóng tổ chức truy tìm. Khi truy tìm, nếu phát hiện phải lưu giữ học sinh đó, Công an cấp huyện phải lập biên bản và báo cho trường biết; khi nhận được thông báo, trường có trách nhiệm đến nhận học sinh. Thời gian học sinh bỏ trốn không được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp giáo dưỡng.
Điều 11.
1. Việc trích xuất học sinh đưa đi phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc trong trường hợp đặc biệt khác chỉ được thực hiện khi có lệnh trích xuất của người có thẩm quyền theo yêu cầu của cơ quan đang thụ lý vụ án. Lệnh trích xuất, thủ tục trích xuất thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.
2. Cơ quan yêu cầu trích xuất chịu trách nhiệm đưa và trả học sinh trích xuất đến trường đúng thời hạn đã ghi trong lệnh trích xuất; khi giao nhận học sinh phải lập biên bản. Thời hạn trích xuất được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp giáo dưỡng.
Điều 12. Thời gian học sinh ở trường giáo dưỡng được học văn hóa, giáo dục hướng nghiệp, học nghề theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Đối với học sinh chưa đạt trình độ phổ cập giáo dục tiểu học thì việc học văn hoá là bắt buộc. Đối với học sinh khác thì tuỳ khả năng, điều kiện thực tế mà tổ chức cho họ học tập, lao động phù hợp.
Kinh phí hàng tháng cho mỗi học sinh mua sách vở, đồ dùng học tập do ngân sách nhà nước cấp được thực hiện theo quy định hiện hành đối với học sinh bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng.
Điều 13.
1. Trường giáo dưỡng có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh và tổ chức thi (học kỳ, kết thúc năm học, chuyển cấp, thi tuyển chọn học sinh giỏi...) theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
2. Sổ điểm, học bạ, hồ sơ và các biểu mẫu liên quan đến việc học tập của học sinh phải theo mẫu thống nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
3. Chứng chỉ học văn hoá, học nghề do trường cấp cho học sinh có giá trị như chứng chỉ của các trường phổ thông, trường dạy nghề.
Điều 14.
1. Ngoài giờ học tập, học sinh phải tham gia lao động do trường tổ chức. Trường có trách nhiệm sắp xếp công việc phù hợp với lứa tuổi và sức khoẻ của học sinh để bảo đảm sự phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ và đạo đức.
2. Không được sử dụng học sinh làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.
3. Thời gian lao động của học sinh không được nhiều hơn thời gian học tập. Thời gian học tập trên lớp và lao động không quá 7 giờ trong một ngày và không quá 35 giờ trong tuần. Chỉ được sử dụng học sinh làm thêm giờ hoặc làm ban đêm trong những trường hợp thật cần thiết và theo quy định của pháp luật về lao động.
4. Học sinh được nghỉ ngày lễ, Tết theo quy định của Nhà nước.
5. Kết quả lao động của học sinh được sử dụng phục vụ cải thiện đời sống, sinh hoạt và học tập của họ.
Điều 15. Ngoài giờ học văn hoá, học nghề, lao động, học sinh được tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, đọc sách báo, xem truyền hình và các hoạt động vui chơi giải trí khác do trường tổ chức.
Điều 16. Căn cứ vào giới tính, lứa tuổi, đặc điểm nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội của học sinh, trường sắp xếp chỗ ở, sinh hoạt phù hợp trong các buồng tập thể. Buồng ở phải bảo đảm thoáng mát về mùa hè, kín gió về mùa đông, hợp vệ sinh môi trường. Diện tích nơi ở tối thiểu cho mỗi học sinh là 2,5 m2.
Điều 17. Học sinh được bố trí giường hoặc bệ nằm có chiếu trải và được phép sử dụng đồ dùng sinh hoạt cá nhân của mình (trừ những đồ vật bị cấm sử dụng trong trường giáo dưỡng), nếu thiếu thì trường cho mượn hoặc cấp.
Đồ dùng học sinh được trường cho mượn hoặc cấp được áp dụng theo quy định hiện hành như học sinh bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng.
1. Tiêu chuẩn ăn, chất đốt (kể cả trong những ngày lễ, Tết theo quy định của Nhà nước), chữa bệnh cho mỗi học sinh do ngân sách nhà nước cấp, như tiêu chuẩn của mỗi học sinh bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng.
2. Chế độ ăn, nghỉ đối với học sinh ốm đau, bệnh tật, thương tích do y, bác sĩ chỉ định.
Điều 19. Học sinh bị ốm đau, bệnh tật, thương tích được điều trị tại cơ sở y tế của trường; trường hợp ốm đau, bệnh tật, thương tích nặng vượt quá khả năng điều trị của trường thì Hiệu trưởng quyết định đưa họ đến điều trị tại cơ sở y tế bên ngoài. Kinh phí khám và chữa trị do trường chi trả.
Điều 20.
1. Trường hợp học sinh bị chết, Hiệu trưởng phải báo ngay cho Viện Kiểm sát nhân dân, Công an cấp huyện nơi trường đóng đến lập biên bản và xác định nguyên nhân chết, có học sinh của trường chứng kiến. Trường có trách nhiệm thông báo ngay cho thân nhân của người chết biết.
Sau khi được Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát thống nhất cho phép mai táng thì trường có trách nhiệm tổ chức mai táng. Kinh phí cho việc mai táng do ngân sách nhà nước cấp theo chế độ hiện hành. Trường hợp thân nhân của người chết đề nghị tự tổ chức mai táng thì nhà trường giao cho họ. Việc tổ chức mai táng phải đảm bảo vệ sinh môi trường, đúng quy định của pháp luật và phù hợp phong tục tập quán.
2. Trường hợp học sinh bị tai nạn, Hiệu trưởng phải làm các thủ tục cần thiết để giải quyết chế độ trợ cấp tai nạn. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Công an hướng dẫn thực hiện chế độ trợ cấp học sinh bị tai nạn.
Điều 21.
1. Học sinh được gặp thân nhân tại nơi tiếp đón của trường và phải chấp hành đúng những quy định về thăm gặp.
2. Học sinh được gửi và nhận thư, nhận quà (trừ rượu, bia, thuốc lá, các chất kích thích khác, đồ vật và các loại văn hoá phẩm bị cấm). Trường có trách nhiệm kiểm tra thư, quà trước khi gửi hoặc nhận. Nếu học sinh có tiền hoặc giấy tờ có giá thì phải gửi vào bộ phận lưu ký và sử dụng theo quy định của trường.
3. Chế độ thăm, gặp, nhận quà, nhận và gửi thư quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này thực hiện theo quy định hiện hành.
Điều 22. Học sinh đã chấp hành được một phần hai thời hạn chấp hành biện pháp giáo dưỡng và thực sự ăn năn hối lỗi, nhận rõ việc làm sai trái của bản thân, tích cực học tập, lao động, tu dưỡng và chấp hành tốt nội quy của trường thì Hiệu trưởng có thể đề nghị Toà án nhân dân cấp huyện nơi trường đóng quyết định chấm dứt thời hạn chấp hành biện pháp này cho học sinh đó.
Điều 23.
1. Chậm nhất là 15 ngày trước khi học sinh hết thời hạn chấp hành biện pháp giáo dưỡng, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có trách nhiệm thông báo cho Toà án đã ra quyết định thi hành biện pháp giáo dưỡng, ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và gia đình họ biết ngày ra trường.
2. Khi học sinh hết hạn chấp hành biện pháp giáo dưỡng, Hiệu trưởng có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận cho họ và gửi bản sao cho Toà án đã ra quyết định, Công an cấp huyện và ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
3. Học sinh khi ra trường có trách nhiệm trả lại chăn, màn và những đồ dùng được trường cho mượn; được nhận lại tiền và đồ vật gửi lưu ký, các chứng chỉ học văn hoá, học nghề (nếu có), tiền ăn đường và tiền tàu xe. Trường hợp hết thời hạn chấp hành biện pháp giáo dưỡng mà học sinh vẫn chưa thực sự tiến bộ thì Hiệu trưởng phải có bản nhận xét riêng và kiến nghị các biện pháp giáo dục, quản lý tiếp theo gửi Toà án nơi đã ra quyết định và ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
4. Đối với học sinh đã chấp hành xong biện pháp giáo dưỡng mà không rõ cha mẹ, nơi cư trú thì trường có trách nhiệm liên hệ với Toà án đã ra quyết định và ủy ban nhân dân cùng cấp với Toà án để đề nghị có biện pháp giúp đỡ, sắp xếp chỗ ăn, ở và tạo việc làm, học tập phù hợp để ổn định cuộc sống cho họ.
5. Đối với học sinh dưới 15 tuổi hoặc bị ốm đau, bệnh tật đến ngày được ra trường mà không có thân nhân đến đón, thì trường có trách nhiệm cử cán bộ, giáo viên đưa về gia đình hoặc giao ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
Điều 24.
1. Học sinh có tiến bộ rõ rệt, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, nội quy của trường hoặc lập công, thì được Hiệu trưởng xem xét, quyết định khen thưởng bằng các hình thức sau :
a) Biểu dương;
b) Cho đi tham quan do trường tổ chức;
c) Thưởng tiền hoặc hiện vật;
d) Đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét, quyết định chấm dứt thời hạn chấp hành biện pháp giáo dưỡng.
2. Học sinh không chịu học tập, lao động hoặc có hành vi khác vi phạm nội quy của trường, thì Hiệu trưởng tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà quyết định kỷ luật bằng một trong các hình thức sau :
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Giáo dục tại buồng kỷ luật 5 ngày.
Học sinh bị đưa vào buồng kỷ luật phải làm bản kiểm điểm và tự kiểm điểm trước toàn trường.
3. Quyết định khen thưởng hoặc kỷ luật đối với học sinh phải thể hiện bằng văn bản do Hiệu trưởng ký và lưu vào hồ sơ theo quy định.
4. Nếu học sinh vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 25. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra trường, học sinh đã chấp hành biện pháp giáo dưỡng phải trình báo ủy ban nhân dân cấp xã và Công an cùng cấp nơi mình cư trú.
Chương 4:
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN TRONG VIỆC THI HÀNH BIỆN PHÁP GIÁO DƯỠNG
Điều 26. Bộ Công an trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành biện pháp giáo dưỡng.
2. Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức lực lượng thi hành biện pháp giáo dưỡng.
3. Chủ trì, phối hợp với Toà án, Viện Kiểm sát, các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân các địa phương trong việc thi hành biện pháp giáo dưỡng.
4. Thống kê về thi hành biện pháp giáo dưỡng.
5. Kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc thi hành biện pháp giáo dưỡng.
Điều 27. Bộ Y tế có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an hướng dẫn việc phòng bệnh, khám, chữa bệnh và khám sức khoẻ định kỳ cho học sinh; hướng dẫn, chỉ đạo các cơ sở y tế phối hợp dập tắt dịch bệnh; tổ chức cứu chữa trong trường hợp ngộ độc hàng loạt hoặc trường hợp ốm đau, bệnh tật, thương tích vượt quá khả năng điều trị của trường.
Điều 28. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chương trình giáo dục của trường; đào tạo, huấn luyện hoặc hỗ trợ giáo viên cho trường; tạo điều kiện cho học sinh ra trường tiếp tục được học tập tại địa phương.
Điều 29. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm hỗ trợ, hướng dẫn việc tổ chức dạy nghề trong trường và giới thiệu việc làm cho học sinh khi ra trường.
Điều 30.
1. Kinh phí để tổ chức thi hành biện pháp giáo dưỡng do ngân sách nhà nước cấp. Việc sử dụng kinh phí phải theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành.
Bộ Tài chính có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho việc thi hành biện pháp giáo dưỡng theo kế hoạch được giao trong dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Công an.
Bộ Công an có trách nhiệm xây dựng dự toán ngân sách hàng năm chi cho việc thi hành biện pháp giáo dưỡng, tổng hợp vào dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Công an gửi Bộ Tài chính xem xét, trình cấp có thẩm quyền quyết định.
2. Trường được tiếp nhận sự giúp đỡ về vật chất của Uỷ ban nhân dân địa phương, các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, cá nhân và tổ chức nước ngoài để tổ chức dạy văn hoá, giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề, mua sắm đồ dùng học tập và sinh hoạt cho học sinh.
Điều 31. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm cấp đất, hỗ trợ về vật chất và tạo điều kiện thuận lợi cho trường đóng tại địa phương mình trong quá trình hoạt động; hướng dẫn, chỉ đạo ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã và các cơ quan chức năng của địa phương tổ chức quản lý, tạo điều kiện cho học sinh đã ra trường tiếp tục học tập hoặc tìm việc làm, giúp đỡ họ hoà nhập cộng đồng.
Chương 5:
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 32. Người nào vi phạm các quy định pháp luật về thi hành biện pháp giáo dưỡng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 33.
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
2. Bộ Công an chịu trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Nghị định này.
Điều 34. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.