> Luật Lâm Vinh Tư vấn pháp luật Bình Dương: Sở hữu trí tuệ

Luật Lâm Vinh - Tư vấn luật miễn phí

M

Nhận diện rủi ro bị từ chối khi đăng ký nhãn hiệu


Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, quy định chi tiết thời hạn thẩm định đối với nhãn hiệu, trong đó thời hạn thẩm định hình thức là 01 tháng và thời hạn thẩm định nội dung là 09 tháng. Đa phần việc từ chối đơn, từ chối cấp văn bằng bảo hộ đều diễn ra chủ yếu trong hai giai đoạn này.

1. Giai đoạn 1: Giai đoạn thẩm định về hình thức.

Giai đoạn thẩm định về hình thức là giai đoạn đầu tiên, cũng là giai đoạn biết kế quả thẩm thẩm định sớm nhất.  Luật SHTT quy định thời hạn thẩm định là 01 tháng sau khi nộp hồ sơ. Đây cũng là thông báo dễ dàng sửa đổi nhất vì phần lời thông tin cần bổ sung liên quan đến sự liệt kê trong tờ khai. Chỉ cần bổ sung theo hướng dẫn của Cục sở hữu trí tuệ trong thời gian 60 ngày là hoàn thành. Nếu quá thời hạn nêu trên mà chủ đơn không tiến hành sửa đổi, bổ sung, hoặc lý do sửa đổi bổ sung không xác đáng thì đơn không được Cục SHTT chấp nhận. Một số lý do kể đến như sau:

-           Nhãn hiệu thiếu sót thông tin về chủ đơn (thiếu tên đầy đủ, địa chỉ …)

-           Nhãn hiệu được in ấn không đồng nhất, thiếu số lượng (thông thường thì nhãn hiệu phải được in màu với kích cỡ 8cm x 8cm và được đính kèm 7 bản nhãn hiệu tương tự theo hồ sơ)

-         Nhãn hiệu kê khai, kê thiếu thông tin chi tiết về nhóm ngành hàng hóa, dịch vụ cần bảo hộ.

2. Giai đoạn 2: Giai đoạn thẩm định về nội dung.

Thời hạn để Cục SHTT tiến hành thẩm định nội dung 09 tháng sau khi đơn đáp ứng các yêu cầu về mặt hình thức. Đây là giai đoạn kéo dài và quan trọng nhất và nhãn hiệu có thể bị từ chối khi vi phạm một trong những dấu hiệu sau:

-           Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

-           Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

-           Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

-           Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

-           Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ.

-           Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;

-           Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;

-           Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;

-           Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;

-           Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;

-           Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

-           Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;

-           Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật này;

-           Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;

-           Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

-           Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hoá;

-           Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;

-           Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu.

3. Cách thức Cục SHTT thẩm định nội dung.

Thông thường, Cục SHTT sẽ thẩm định nội dung nhãn hiệu đăng ký với nhãn hiệu hiệu đối chứng (nếu có) để xác định các dấu hiệu vi phạm so với các nhãn hiệu mà Cục đã đồng ý cấp văn bằng bảo hộ. Việc thẩm định căn cứ vào một số tiêu chí sau:

Trên thực tế, lỗi hay gặp nhất đối với các nhãn hiệu là bị trùng lặp, không có dấu hiệu nhận diện đối với các nhãn hiệu nộp đơn trước đó trong cùng ngành nghề kinh doanh. Điều này thường phát sinh khi các đơn vị tư vấn hoặc dịch vụ bảo hộ nhãn hiệu không tra cứu kỹ hoặc đưa ra khuyến cáo cho khách hàng trước khi tiếp nhận hoặc khách hàng tự mình thực hiện thủ tục nên không lường trước hệ quả này. Khi bị từ chối ở giai đoạn này cũng phát sinh nhiều vấn đề:

- Phát âm: ví dụ: Aloha và Alohan;

- Ý nghĩa: Ví dụ Red sun và Mặt trời đỏ;

- Sản phẩm tương tự/liên quan: Ví dụ: Quần áo với Đồng phục.

- Dịch vụ tương tự/liên quan: Ví dụ: Dịch vụ ngân hàng với Dịch vụ cho vay thế chấp;

4. Chủ đơn cần làm gì khi bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.

Thứ nhất, chủ đơn đăng ký nhãn hiệu phải nộp văn bản khiếu nại và trả lời phản bác về thông báo của Cục sở hữu trí tuệ trong thời gian 2 tháng kể từ khi nhận được văn bản;

Thứ hai, việc khiếu nại hay văn bản trả lời cũng cần có hiểu biết nhất định về pháp luật sở hữu trí tuệ – đây là điều mà nhiều người thiếu sót và dẫn tới việc phản hồi bằng văn bản để phản bác yêu cầu không cấp văn bằng bảo hộ gặp nhiều khó khăn. Nhiều người sẽ lựa chọn cách xây dựng thương hiệu mới và làm lại từ đầu. Cách này sẽ tốn của quý khách thời gian, công sức và tiền bạc hơn rất nhiều.

 

Đánh giá khả năng tương tự, gây nhầm lẫn của dấu hiệu trong đơn đăng ký nhãn hiệu


1. Để đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của dấu hiệu nêu trong đơn, ít nhất Cục Sở hữu trí tuệ tiến hành tra cứu trong nguồn thông tin tối thiểu sau đây:
(i) Các đơn đăng ký nhãn hiệu đã được nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định và các đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có chỉ định Việt Nam mà Cục Sở hữu trí tuệ đã được WIPO thông báo với ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự;
(ii) Các nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ hoặc thừa nhận bảo hộ đang còn hiệu lực tại Việt Nam (kể cả các nhãn hiệu nổi tiếng) dùng cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc có liên quan;
(iii) Các nhãn hiệu được đăng ký đã chấm dứt hiệu lực trong thời hạn chưa quá 5 năm, trừ trường hợp nhãn hiệu bị chấm dứt hiệu lực vì lý do không sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật Sở hữu trí tuệ, dùng cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự;
(iv) Các chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam;
(v) Chỉ dẫn nguồn gốc địa lý hàng hoá, dịch vụ; tên địa lý, các loại dấu chất lượng, dấu kiểm tra; quốc kỳ, quốc huy của các quốc gia; cờ, tên, biểu tượng của các cơ quan, tổ chức của Việt Nam và thế giới; tên và hình ảnh lãnh tụ, anh hùng dân tộc, tên và hình ảnh danh nhân Việt Nam và nước ngoài... mà Cục Sở hữu trí tuệ sưu tầm và lưu giữ.
b) Trong trường hợp cần thiết có thể tra cứu các nguồn thông tin tham khảo ngoài nguồn thông tin tối thiểu như các đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại…;
2. Đánh giá sự tương tự đến mức gây nhầm lẫn của dấu hiệu yêu cầu đăng ký với nhãn hiệu khác.
a) Để đánh giá dấu hiệu yêu cầu đăng ký nêu trong đơn có trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác (sau đây gọi là “nhãn hiệu đối chứng”) hay không, cần phải so sánh về cấu trúc, nội dung, cách phát âm (đối với dấu hiệu chữ), ý nghĩa và hình thức thể hiện của dấu hiệu (đối với cả dấu hiệu chữ và dấu hiệu hình), đồng thời phải tiến hành so sánh hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đối chứng theo quy định tại điểm này.
b) Dấu hiệu trùng với nhãn hiệu đối chứng: dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu đối chứng nếu dấu hiệu đó giống hệt nhãn hiệu đối chứng về cấu trúc, nội dung, ý nghĩa và hình thức thể hiện.
c) Dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đối chứng nếu:
(i) Dấu hiệu đó gần giống với nhãn hiệu đối chứng về cấu trúc hoặc/và nội dung hoặc/và cách phát âm hoặc/và ý nghĩa hoặc/và hình thức thể hiện đến mức làm cho người tiêu dùng tưởng lầm rằng hai đối tượng đó là một hoặc đối tượng này là biến thể của đối tượng kia hoặc hai đối tượng đó có cùng một nguồn gốc;
(ii) Dấu hiệu chỉ là bản phiên âm hoặc dịch nghĩa từ nhãn hiệu đối chứng nếu nhãn hiệu đối chứng là nhãn hiệu nổi tiếng.
3. Đánh giá sự tương tự của hàng hoá, dịch vụ
a) Hai hàng hoá hoặc hai dịch vụ bị coi là trùng nhau (cùng loại) khi hai hàng hoá hoặc hai dịch vụ đó có các đặc điểm sau đây:
(i) Có cùng bản chất (thành phần, cấu tạo...) và cùng chức năng, mục đích sử dụng; hoặc
(ii) Có bản chất gần giống nhau và cùng chức năng, mục đích sử dụng;
b) Hai hàng hoá hoặc hai dịch vụ bị coi là tương tự nhau khi hai hàng hoá hoặc hai dịch vụ đó có các đặc điểm sau đây:
(i) Tương tự nhau về bản chất; hoặc
(ii) Tương tự nhau về chức năng, mục đích sử dụng; và
(iii) Được đưa ra thị trường theo cùng một kênh thương mại (phân phối theo cùng một phương thức, được bán cùng nhau hoặc cạnh nhau, trong cùng một loại cửa hàng...);
c) Một hàng hoá và một dịch vụ bị coi là tương tự nhau nếu thuộc một hoặc các trường hợp sau đây:
(i) Giữa chúng có mối liên quan với nhau về bản chất (hàng hoá, dịch vụ hoặc nguyên liệu, bộ phận của hàng hoá, dịch vụ này được cấu thành từ hàng hoá, dịch vụ kia); hoặc
(ii) Giữa chúng có mối liên quan với nhau về chức năng (để hoàn thành chức năng của hàng hoá, dịch vụ này phải sử dụng hàng hoá, dịch vụ kia hoặc chúng thường được sử dụng cùng nhau); hoặc
(iii) Giữa chúng có mối liên quan chặt chẽ với nhau về phương thức thực hiện (hàng hoá, dịch vụ này là kết quả của việc sử dụng, khai thác hàng hoá, dịch vụ kia...).
HOTLINE:0968.682.478

Quy tắc 05 năm và lý do từ chối bảo hộ nhãn hiệu của Cục Sở hữu trí tuệ


Để được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, cá nhân, tổ chức phải thực hiện nhiều thủ tục, trải qua nhiều giai đoạn, và trong đó, khâu quan trọng nhất vẫn là thẩm định nội dung nhãn hiệu. Có hai kết quả có thể xảy ra ở giai đoạn này, một là Cục SHTT (gọi tắt là Cục) sẽ đồng ý cấp văn bằng bảo hộ (nộp phí theo quy định) hoặc Cục ra văn bản từ chối bảo hộ nhãn hiệu. Luật Lâm Vinh cũng đã có bài viết về những điều doanh nghiệp cần làm khi bị Cục từ chối bảo hộ Bấm để xem bài viết liên quan
Một trong những căn cứ mà Cục thường sử dụng để từ chối bảo hộ nhãn hiệu xin đăng ký là quy định tại Điểm h Khoản 2 Điều 74 Luật SHTT về khả năng phân biệt của nhãn hiệuquy định như sau: "Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật này ."
Thoạt nhìn thì căn cứ từ chối trên có vẻ không có vấn đề nhưng sự tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau mà chưa có hồi kết.
1. Về thời hạn bảo hộ nhãn hiệu.
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm (Khoản 6 Điều 93 Luật SHTT)
.Khoản 2 Điều 94 Luật SHTT quy định: “Để gia hạn hiệu lực Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, chủ văn bằng bảo hộ phải nộp lệ phí gia hạn hiệu lực.”.
Điểm a Khoản 1 Điều 95 Luật SHTT quy định văn bằng bảo hộ hết hiệu lực nếu “Chủ văn bằng bảo hộ không nộp lệ phí duy trì hiệu lực hoặc gia hạn hiệu lực theo quy định”.
Theo các quy định đã viện dẫn nêu trên, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ hết hiệu lực nếu hết thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu không tiến hành gia hạn hoặc các trường hợp khác quy định tại Điều 95 Luật SHTT.
Vậy căn cứ nào để đưa ra quy tắc 05 năm thể hiện tại Điểm h Khoản 2 Điều 74 Luật SHTT.
2. Quy tắc 05 năm.
Quy tắc này được Cục SHTT áp dụng để nêu lý do từ chối bảo hộ, và nhãn hiệu của cá nhân, tổ chức bị từ chối có thể rơi vào 1 trong 3 trường hợp sau:
- Doanh nghiệp nộp đơn đăng ký khi nhãn hiệu được bảo hộ chưa hết thời hạn 05 năm kể từ ngày cuối cùng của thời hạn bảo hộ, thời điểm hoàn thành việc thẩm định nội dung cũng nằm trong khoảng thời gian đã nêu;
- Doanh nghiệp nộp đơn khi nhãn hiệu bảo hộ đã hết nhưng chưa quá 05 năm và thời điểm hoàn thành việc thẩm định nội dung đã qua 05 năm hoặc vừa hết 05 năm;
- Doanh nghiệp nộp đơn khi nhãn hiệu hết thời hạn 05 năm nhưng chủ đơn có nộp lại hồ sơ đăng ký nhãn hiệu;
Một lý do được đưa ra để giải thích cho quy tắc 05 năm chính là để bảo hộ nhãn hiệu khi thời hạn đã hết nhưng khả năng vẫn được người tiêu dùng đón nhận, lưu hành trên thị trường. Khó để đưa ra khái niệm chính xác cho nhận định vừa nêu, nhưng hiểu nôm na là nhận thức, nhận diện, đánh giá, hoặc thị hiếu, quan điểm tiêu dùng của người tiêu dùng đối với sản phẩm/hàng hóa đã được bảo hộ nhưng hết hạn.
Ví dụ: Sản phẩm của công ty A vẫn được sản xuất, lưu hành trên thị trường, và nhận được đánh giá, phản hồi tích cực của khách hàng trong suốt quá trình sản xuất, tiêu thị. Mặc dù thời hạn bảo hộ nhãn hiệu đã hết nhưng quan điểm của các nhà làm luật vẫn dự liệu khoảng thời gian 05 năm để đánh giá tổng quan về nhãn hiệu đó trước khi chấp nhận một nhãn hiệu đăng ký bởi cá nhân, tổ chức mới cho cùng sản phẩm, nhãn hiệu đó.
Quy định nêu trên nhằm bảo vệ người tiêu dùng, tránh khả năng lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc thương mại. Đây là một tư duy đúng nhưng cần có sự nhận thức và điều chỉnh lại phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội (Luật SHTT ban hành 2006), tránh lạc hậu so với thế giới xung quanh và mặt khác đang trở thành trở ngại gây cản trở một cách bất hợp lý đến quá trình xác lập quyền đối với nhãn hiệu.


Đặt giả sử có yếu tố trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn, khi doanh nghiệp muốn đăng ký nhãn hiệu phải chờ thêm thời hạn 05 năm kể từ ngày hai nhãn hiệu nói trên hết hạn mới được đăng ký, xem xét cấp giấy chứng nhận bảo hộ, trong khi nhãn hiệu hết hiệu lực mà không cần quan tâm nhãn hiệu có được chủ sở hữu gia hạn hay không hoặc sản phầm/hàng hóa còn lưu hành trên thị trường hay không. Luật SHTT cũng không quy định các quyền bảo lưu đăng ký lại hoặc quyền ưu tiến đến ngày cuối cùng của thời hạn.
Quy tắc 05 năm quy định tại Điểm h Khoản 2 Điều 74 Luật SHTT, nếu tiếp cận ở nhiều góc nhìn khác nhau thì đang gây bất lợi cho doanh nghiệp khi tiến hành thủ tục đăng ký nhãn hiệu, đặc biệt trong xu thế ngày càng phát triển của kinh tế, toàn cầu hóa, và không dựa trên bất cứ căn cứ pháp lý nào có trong các quy định pháp luật hiện hành.
Hotline: 096868.2478




Thủ tục giải quyết khiếu nại sở hữu trí tuệ

1.Quyền khiếu nại
Người nộp đơn và mọi tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến quyết định hoặc thông báo liên quan đến việc xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp ban hành có quyền khiếu nại với cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp hoặc khởi kiện ra toà án theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và pháp luật có liên quan.
2. Thời hiệu khiếu nại
Khiếu nại lần đầu được thực hiện trong vòng chín mươi ngày, kể từ ngày người có quyền khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định hoặc thông báo về việc xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp;
Khiếu nại lần thứ hai là ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà khiếu nại đó không được giải quyết hoặc tính từ ngày người có quyền khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.
3. Trình tự khiếu nại
Nếu hết thời hạn giải quyết khiếu nại của cấp trực tiếp ra quyết định hoặc thông báo liên quan đến sở hữu công nghiệp (khiếu nại lần thứ nhất) mà khiếu nại không được giải quyết hoặc nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan này thì người khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến quyết định đó có quyền khiếu nại với Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (khiếu nại lần thứ hai) hoặc khởi kiện tại toà án. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thì người khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến quyết định đó có quyền khởi kiện tại toà án.
4.  Hồ sơ khiếu nại 
Nội dung khiếu nại phải được thể hiện bằng đơn khiếu nại, trong đó phải nêu rõ họ và tên, địa chỉ của người khiếu nại; số, ngày ký, nội dung thông báo hoặc quyết định bị khiếu nại; nội dung khiếu nại, lập luận, dẫn chứng chứng minh cho khiếu nại; đề nghị cụ thể về việc sửa chữa hoặc hủy bỏ thông báo hoặc quyết định liên quan.
5.Nộp đơn khiếu nại
5.1. Thực hiện
- Nộp đơn thông qua đại diện sở hữu công nghiệp hoặc trực tiếp tại trụ sở Cục Sở hữu trí tuệ và các Văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh hoặc Đà Nẵng.
- Qua bưu điện.
5.2. Thành phần, số lượng hồ sơ.
- Thành phần hồ sơ, bao gồm: 
 Tờ khai (02 tờ theo mẫu);
+ Văn bản giải trình khiếu nại và chứng cứ chứng minh lý lẽ khiếu nại;                     
+ Bản sao quyết định hoặc thông báo bị khiếu nại của Cục Sở hữu trí tuệ; 
+ Bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần thứ nhất (đối với khiếu nại lần thứ hai);
+ Giấy uỷ quyền (nếu nộp đơn thông qua đại diện);
+ Chứng từ nộp phí, lệ phí.
- Số lượng hồ sơ: 02 (bộ).
 6. Giải quyết đơn khiếu nại.
6.1. Thụ lý đơn khiếu nại
a) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đơn khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải kiểm tra đơn theo các yêu cầu về hình thức và ra thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại về việc đơn khiếu nại có được thụ lý hay không, trong đó ghi nhận ngày thụ lý đơn hoặc nêu rõ lý do không thụ lý đơn.
b) Đơn khiếu nại không được thụ lý nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
(i) Người khiếu nại không có quyền khiếu nại;
(ii) Đơn khiếu nại nộp ngoài thời hiệu quy định;
(iii) Đơn khiếu nại không đáp ứng các yêu cầu quy định tại điểm 22.1 và điểm 22.2 của Thông tư này.
6.2. Bên liên quan
a) Đối với những đơn khiếu nại đã thụ lý, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thông báo bằng văn bản về nội dung khiếu nại cho người có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp (“bên liên quan”) và ấn định thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra thông báo để người đó có ý kiến.
b) Bên liên quan có quyền cung cấp thông tin, chứng cứ chứng minh cho lý lẽ của mình trong thời hạn nêu tại điểm 22.6.a trên đây, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm xem xét các thông tin, chứng cứ đó khi giải quyết khiếu nại.
c) Nếu kết thúc thời hạn nêu trên mà bên liên quan không có ý kiến thì khiếu nại sẽ được giải quyết trên cơ sở ý kiến của người khiếu nại.
6.3. Quyết định giải quyết khiếu nại
a) Căn cứ vào lập luận, chứng cứ của người khiếu nại và bên liên quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ra quyết định giải quyết khiếu nại trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
b) Trước khi ra quyết định giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thông báo cho người khiếu nại và bên liên quan về những lập luận và chứng cứ của bên kia được sử dụng để giải quyết khiếu nại cũng như kết luận giải quyết khiếu nại.
c) Quyết định giải quyết khiếu nại phải có các nội dung theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
6.4. Công bố
Quyết định giải quyết khiếu nại được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày ký quyết định.
6.5. Hiệu lực của quyết định giải quyết khiếu nại
a) Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu sau ngày kết thúc thời hiệu khiếu nại lần thứ hai mà người khiếu nại không khiếu nại lần thứ hai và sau thời hiệu khởi kiện hành chính nếu người khiếu nại không khởi kiện hành chính; hoặc
b) Quyết định giải quyết khiếu nại lần thứ hai và người khiếu nại không khởi kiện hành chính trong thời hạn quy định hoặc theo quyết định đã có hiệu lực của toà án nếu người khiếu nại tiến hành khởi kiện hành chính.
Liên hệ:  Mr.Vinh 096868.2478

Thủ tục sửa đổi đơn, chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu


Thủ tục sửa đổi đơn, chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu
- Trước khi Cục Sở hữu trí tuệ ra Quyết định từ chối chấp nhận đơn hợp lệ, Quyết định từ chối cấp văn bằng bảo hộ hoặc Quyết định cấp văn bằng bảo hộ, người nộp đơn có thể chủ động hoặc theo yêu cầu của Cục Sở hữu trí tuệ sửa đổi đơn.

Doanh nghiệp cần làm gì khi bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ


Chủ đơn sau khi thực hiện các thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu nhưng không được Cục Sở hữu trí tuệ (CSHTT) cấp văn bản bảo hộ và ra thông báo từ chối. Vậy, nguyên dẫn dẫn đến việc từ chối bảo hộ của CSHTT Việt Nam xuất phát từ đâu ?
1. Các trường hợp bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.
Một vài nguyên nhân có thể kể đến bao gồm:
-         Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bị coi là không hợp lệ, và thuộc trong các trường hợp sau đây:
a)        Đơn không đáp ứng các yêu cầu về hình thức;
b)       Đối tượng nêu trong đơn là đối tượng không được bảo hộ;
c)     Người nộp đơn không có quyền đăng ký, kể cả trường hợp quyền đăng ký cùng thuộc nhiều tổ chức, cá nhân nhưng một hoặc một số người trong số đó không đồng ý thực hiện việc nộp đơn;
d)     Đơn được nộp trái với quy định về cách thức nộp đơn quy định tại Điều 89 của Luật Sở hữu trí tuệ;
e)       Người nộp đơn không nộp phí và lệ phí.
-       Nhãn hiệu đã nộp đơn đăng ký bị từ chối do không đáp ứng đủ điều kiện bảo hộ, và người nộp không có câu trả lời xác đáng, hợp lý cho dự định từ chối của Cục sở hữu trí tuệ hoặc không trả lời các công văn của Cục về dự định từ chối cấp văn bằng đúng thời hạn của pháp luật thì Cục sẽ ra quyết định từ chối cấp văn bằng bảo hộ.
-       Đơn bị từ chối do có một bên thứ ba phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu, trong trường hợp này ý kiến của bên thứ ba cũng là yếu tố được Cục sở hữu trí tuệ xem xét khi đưa ra quyết định cấp hay từ chối cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu.
-       Người nộp đơn không nộp phí cấp văn bằng bảo hộ sau khi đã nhận được quyết định về việc đồng ý cấp văn bằng của Cục. Lý do không nộp lệ phí có thể do người nộp đơn không còn nhu cầu sử dụng nhãn hiệu đó nữa, do người nộp đơn quên mất mình phải nộp lệ phí mới được cấp văn bằng do thời gian thực hiện thủ tục trước đó kéo dài, hoặc do điều kiện về địa lý khiến người nộp đơn không thể trực tiếp đến Cục sở hữu trí tuệ nộp lệ phí được.
-         Đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong các trường hợp sau đây:
a)       Có cơ sở để khẳng định rằng đối tượng nêu trong đơn không đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo hộ;
b)      Đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ nhưng không phải là đơn có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 90 của Luật này;
c)      Đơn thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 90 của Luật SHTT mà không được sự thống nhất của tất cả những người nộp đơn.
-         Đơn đăng ký thiết kế bố trí bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong trường hợp không đáp ứng yêu cầu về hình thức theo quy định tại Điều 109 của Luật SHTT.
-         Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp thuộc các trường hợp từ chối cấp văn bằng bảo hộ thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thực hiện các thủ tục sau đây:
-         Thông báo dự định từ chối cấp văn bằng bảo hộ, trong đó phải nêu rõ lý do và ấn định thời hạn để người nộp đơn có ý kiến phản đối dự định từ chối;
-        Thông báo từ chối cấp văn bằng bảo hộ nếu người nộp đơn không có ý kiến phản đối hoặc ý kiến phản đối không xác đáng dự định từ chối quy định tại điểm a khoản này;
Giải pháp nào cho doanh nghiệp khi bị Cục SHTT từ chối ?
Thông thường để được cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý, chủ đơn thường mất một khoảng thời gian dài (tối thiểu 12 tháng) để chờ đợi kết quả cuối cùng. Việc bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu cũng là điều không ai mong muốn, làm  lãng phí về cả thời gian và tiền bạc với chủ đơn.
Để giảm thiểu được tối đa khả năng bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu. Ngay từ đầu người đăng ký nhãn hiệu và các đối tượng sở hữu công nghiệp, chủ đơn nên tự mình kiểm tra khả năng (xác suất) được Cục SHTT cấp văn bằng bảo hộ thông qua cổng thông tin của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam tại địa chỉ http://www.noip.gov.vn/. Hay tốt hơn hết là ngay từ đầu nên ủy quyền cho một đại diện sở hữu trí tuệ để được hỗ trợ trong toàn bộ quá trình thực hiện thủ tục. Tránh được rủi ro, thiếu sót sau này vì đây là công việc mang tính chất đặc thù đòi hỏi chuyên môn cũng như kinh nghiệm.
Ngay sau khi nhân được công văn phúc đáp của Cục SHTT Việt Nam về việc bổ sung, sửa đổi, dự định từ chối thì cá nhân, doanh nghiệp (chủ đơn) cần có ý kiến phản hồi xác đáng bằng văn bản. Trong đó cần nêu rõ các lý do, cơ sở của việc chấp thuận hay không chấp thuận. Cục SHTTVN sẽ xem xét cấp văn bằng bảo hộ, và ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 118 của Luật SHTT, nếu người nộp đơn có ý kiến xác đáng phản đối dự định từ chối quy định.
Dịch vụ đăng ký nhãn hiệu tại Bình Dương.
Tư vấn luật tại Bình Dương.
Tư vấn thu hồi công nợ tại Bình Dương.
Tư vấn hôn nhân gia đình, tư vấn ly hôn tại Bình Dương
Tư vấn, thành lập doanh nghiệp tại Bình Dương.
Tư vấn luật đất đai tại Bình Dương.
Tư vấn pháp lý thường xuyên cho doanh nghiệp tại Bình Dương.
Thực hiện các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu.
Liên hệ: 096868.2478.

Đăng ký nhãn hiệu tại Bình Dương



Trong tiến trình phát triển của doanh nghiệp, không thể không nhắc đến tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ thương hiệu, nhãn hiệu. Bởi, Thương hiệu, nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau, là “điểm nhấn” mà mỗi doanh nghiệp tạo ra cho sản phẩm của mình. Hình dung nó giống như tên “khai sinh” của mỗi sản phẩm, đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận bảo hộ vậy. Nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ sẽ có ưu thế trong việc kinh doanh, đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp. Về khái niệm của nhãn hiệu, bao gồm những loại nhãn hiệu gì thì đã quy định rõ tại Khoản 16, 17, 18, 19 Điều  Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Vậy để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu thì cần tiến hành như thế nào ?