> Luật Lâm Vinh Tư vấn pháp luật Bình Dương: Tư vấn luật dân sự

Luật Lâm Vinh - Tư vấn luật miễn phí

M

Phân biệt vụ án dân sự và việc dân sự


Phân biệt “vụ án dân sự”, “việc dân sự”.
Hiện nay, trong cách hành văn và/hoặc trong cách nói của nhiều người còn mập mờ về các khái niệm “vụ án dân sự”, “việc dân sự” và"vụ việc dân sự". Vì vậy, hiểu như thế nào về các khái niệm nêu trên, cũng là cách để áp dụng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự, vào việc bảo vệ quyền và lợi ích cá nhân, cơ quan tổ chức. Cùng với đó là việc lựa chọn trình tự, thủ tục thực hiện đến cơ quan thẩm quyền, để được tiếp nhận, giải quyết, tranh nhầm lần làm mất thời gian, đi lại nhiều lần. Bàn về sự khác nhau này, Luật Lâm Vinh có góc nhìn như sau:
 Thực ra ngay tại Điều 1 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 (BLTTDS) đã đề cập ngay đến thuật ngữ “vụ án dân sự”, “việc dân sự” và "vụ việc dân sự" cụ thể như sau: “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án.
Với nội hàm của Điều 1 BLTTDS chúng ta đã thấy sự xuất hiện của 03 khái niệm vụ án dân sự”, “việc dân sự” và "vụ việc dân sự". Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại tại đây, rõ ràng chúng ta chưa thể phân biệt được mà chỉ là bước tiếp cận ban đầu, để thấy được có sự khác nhau trong khái niệm, thì chắc chắn có sự khác nhau trong cách vận dụng pháp luật.
Tìm hiều sâu hơn về quy định của BLTTDS và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, chúng ta có thể thấy quy định khác nhau về "vụ án dân sự" và "việc dân sự"như sau:
1. Về khái niệm.
Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Việc cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu toà án giải quyết là xuất phát từ cá nhân, cơ quan, tổ chức của nếu xét thấy việc yêu cầu có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ. Điều này khác biệt so với vụ án dân sự (có tranh chấp, có xung đột lợi ích).
Chẳng hạn, yêu cầu thuận tình ly hôn của vợ chồng. Đây được xem là việc dân sự, bởi cá cá nhân đã thoả thuận được với nhau về việc ly hôn mà không có tranh chấp nào xảy ra.
Khác biệt 1: Việc dân sự không có tranh chấp xảy ra, còn vụ án dân sự là có tranh chấp xảy ra.
Việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án được quy định cụ thể tại các Điều 27, 29, 31, 33 của BLTTDS, bao gồm các việc dân sự, hôn nhân, gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Các quy định về thẩm quyền giải quyết của Toà án được quy định chung cho “việc dân sự”, “vụ án dân sự” và “vụ việc dân sự”.
Giống nhau: Quy định về thẩm quyền giải quyết của toà án là giống nhau, ngoại trừ một số quy định về thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ, quy định tại Điều 39 BLTTDS.
2. Về thủ tục giải quyết.
Nếu như thủ tục giải quyết của vụ án dân sự được quy định cụ thể tại Chương XII đến chương XXII thì việc dân sự được quy định cụ thể tại Chương XXIII Phần 6 BLTTDS. Khởi đầu của việc yêu cầu TAND giải quyết là đơn yêu cầu thay vì đơn khởi kiện như trong vụ án dân sự.
2.1 Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và đơn khởi kiện vụ án dân sự.
Nội dung đơn yêu cầu được quy định tại Điều 362 BLTTDS. Điểm khác biệt là trong đơn yêu cầu chỉ có thông tin của bên yêu cầu hoặc có thêm thông tin của người liên quan. Tuy nhiên, đối với đơn khởi kiện, ngoài việc điền đầy đủ thông tin người khởi kiện còn phải ghi thông tin của bên khởi kiện và người có quyền, nghĩa vụ liên quan (nếu có).
2.2 Phiên họp giải quyết việc dân sự và phiên toà xét xử vụ án dân sự.
BLTTDS có quy định về trình tự giải quyết các vụ án dân sự trong đó có thủ tục xét xử các vụ án dân sự. Còn đối với việc dân sự chỉ thông qua các phiên họp giải quyết mà không thông qua xét xử.
a. Thành phần xét xử vụ án dân sự.
Xét xử sơ thẩm:
- Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật này. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân.
- Đối với vụ án có đương sự là người chưa thành niên thì phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công tác tại Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em.
- Đối với vụ án lao động thì phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công tác trong tổ chức đại diện tập thể lao động hoặc người có kiến thức về pháp luật lao động.
Xét xử phúc thẩm:
Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự gồm ba Thẩm phán, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của BLTTDS.
Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành.
- Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán hoặc toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao.
- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán hoặc toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
b. Thành phần giải quyết phiên họp việc dân sự.
Chỉ có Thẩm phán và Kiểm sát viên tham gia phiên họp, không có Hội thẩm nhân dân tham gia giống như Hội đồng xét xử vụ án dân sự. BLTTDS quy định cụ thể như sau:
"Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại khoản 5 Điều 27, khoản 9 Điều 29, khoản 4 và khoản 5 Điều 31, khoản 2, 3 và 4 Điều 33 của Bộ luật này hoặc việc xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giải quyết việc dân sự do tập thể gồm ba Thẩm phán giải quyết.
- Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này do một Thẩm phán giải quyết.
- Thành phần giải quyết yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 2 Điều 31 của Bộ luật này được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại".
3. Người tham gia tố tụng.
Điều 68 BLTTDS 2015 quy định cụ thể người tham gia tố tụng trong vụ việc dân sự, cụ thể:
Đối với vụ án dân sự: Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đối với việc dân sự: Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
4. Về án phí, lệ phí.
1. Tiền tạm ứng án phí bao gồm tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
2. Án phí bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
3. Tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự bao gồm tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm và tiền tạm ứng lệ phí phúc thẩm.
Theo quy định viện dẫn nêu trên, đối với vụ án dân sự, người khởi kiện phải đóng tạm ứng án phí, trong khi việc dân sự gọi là lệ phí chứ không phải là án phí.
Mức đóng án phí, lệ phí.
Ngoài tên gọi, trong vụ án dân sự và vụ việc dân sự, mức đóng tạm ứng án phí và lệ phí cũng khác nhau.
Theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí toà án thì mức đóng tạm ứng án phí vụ án dân sự và lệ phí giải quyết việc dân sự được hiểu như sau:
Đối với tạm ứng án phí dân sự được chia thành 02 loại:
- Án phí dân sự không có giá ngạchĐối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động là 300.000 đồng; Đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại không có giá ngạch là 3.000.000 đồng.
- Án phí dân sự có giá ngạch: tính theo phần trăm giá trị tranh chấp và khác nhau tuỳ vụ án tranh chấp.
Đối với tạm ứng lệ phí việc dân sự: Không phân biệt có giá ngạch hay không có giá ngạch, thông thường là 300.000 đồng. Một số việc dân sự có mức thu lệ phí khác, chẳng hạn: Lệ phí yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; phán quyết của trọng tài nước ngoài, Lệ phí giải quyết yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luậtvề Trng tài thương mại.

Rủi ro từ mua bán, chuyển nhượng tài sản hình thành trong tương lai


Luật kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13, ngày 25/11/2014 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2015, quy định chi tiết các điều kiện, trình tự, thủ tục đối với việc mua bán, chuyển nhượng, cho thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, không ít trường hợp các công ty bất động sản tự vẽ ra dự án, thực hiện việc chuyển nhượng khi chưa đủ điều kiện quy định của Luật.
Điều 55 Luật kinh doanh bất động sản về “Điều kiện của bất động sản hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh” quy định
1. Có giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Giấy phép xây dựng đối với trường hợp phải có Giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ dự án; trường hợp là nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đích để ở hình thành trong tương lai thì phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó.
2. Trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, chủ đầu tư phải có văn bản thông báo cho cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua; trường hợp không đủ điều kiện phải nêu rõ lý do”.
Điều này đồng nghĩa, việc ký hợp đồng mua bán khi doanh nghiệp kinh doanh bất động sản chưa hoàn tất các thủ tục pháp lý, hay nói cách khác chưa đủ điều kiện thực hiện việc chuyển nhượng, mua bán là trái pháp luật. Rủi ro trong trường hợp này, người mua là người chịu thiệt hại đầu tiên, “tiền mất tật mang”. Pháp luật kinh doanh bất động sản không công nhận quan hệ mua bán này là hợp pháp, hợp đồng chuyển nhượng, mua bán là vô hiệu.
Hậu quả của giao dịch vô hiệu được quy định cụ thể tại Điều 31 Bộ luật dân sự (BLDS 2015).
Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định”.
Luật quy định rõ việc Các Bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tuy nhiên để các đơn vị kinh doanh bất động sản hoàn trả lại khoản tiền đã nhận đặt cọc của bên mua là cả vấn đề. Vấn đề phát sinh hiện hữu lúc này là người mua lại mất thời gian để làm việc, thoả thuận, thậm chí là theo đuổi vụ kiện tại Toà án có thẩm quyền. Thay vì người mua là bên nhận được lợi ích từ các giao dịch thì vô tình họ lại là bên chịu thiệt thòi. Do vậy, trước khi đặt bút ký các giao dịch liên quan đến mua bán, chuyển nhượng, thuê mua tài sản hình thành trong tương lai, bên mua cần tìm hiểu kỹ các thông tin về dự án, hồ sơ pháp lý đính kèm. Nếu nhận thấy đủ điều kiện mà pháp luật cho phép giao dịch, chuyển nhượng thì mới đặt bút ký hợp đồng.
Đối với các trường hợp đơn vị kinh doanh bất động sản tự vẽ dự án không có thực, chưa được Cơ quan có thẩm quyền cấp phép nhằm thu tiền đặt cọc, mua bán của cá nhân, tổ chức thì việc xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự là có cơ sở trong trường hợp này. Trong trường hợp này, rủi ro luôn hiện hữu với người mua. Người mua lúc này tham gia tố tụng với tư cách là bị hại, nhưng khi nào, thời gian nào mới nhận được tiền bồi thường từ đơn vị kinh doanh đó mới là điều quan trọng.
Một vấn đề nữa mà người mua luôn quan tâm đó là tiến độ thanh toán trong các giao dịch mua bán tài sản hình thành trong tương lai. Điều này cũng đã quy định rõ trong Luật kinh doanh bất động sản. Theo đó, Điều 57 Luật kinh doanh “Thanh toán trong mua bán, thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai” quy định như sau:
1. Việc thanh toán trong mua bán, thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai được thực hiện nhiều lần, lần đầu không quá 30% giá trị hợp đồng, những lần tiếp theo phải phù hợp với tiến độ xây dựng bất động sản nhưng tổng số không quá 70% giá trị hợp đồng khi chưa bàn giao nhà, công trình xây dựng cho khách hàng; trường hợp bên bán, bên cho thuê mua là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì tổng số không quá 50% giá trị hợp đồng.
Trường hợp bên mua, bên thuê mua chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì bên bán, bên cho thuê mua không được thu quá 95% giá trị hợp đồng; giá trị còn lại của hợp đồng được thanh toán khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên mua, bên thuê mua.
2. Chủ đầu tư phải sử dụng tiền ứng trước của khách hàng theo đúng mục đích đã cam kết.”.
Khi tiến hành đặt bút ký các giao dịch mua bán bất động sản, ngoài các quy định về điều kiện chuyển nhượng, người mua cần tỉnh táo trong việc soát xét các điều khoản thanh toán để đàm bảo tối đa quyền lợi của mình. Trong trường hợp không tự mình tìm hiểu hoặc tìm hiểu nhưng chưa rõ ràng, thì cần tìm đến các ý kiến tư vấn của các chuyên gia, luật sư để được hiểu thêm các vấn đề liên quan.
Nói tóm lại đầu tư, kinh doanh là để sinh lời nhưng lựa chọn phương thức, kênh đầu từ nào là cả vấn đề. Tìm hiểu kỹ các vấn đề pháp lý có liên quan là cách để tự bảo vệ lợi ích của chính mình.



Kiện đòi lại đất ở nhờ, xác định án có giá ngạch hay không giá ngạch


Xác định kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất cho ở nhờ, cho mượn là án có giá ngạch hay án không có giá ngạch ?

1. Các loại án phí trong vụ án dân sự bao gồm:
a) Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch;
b) Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch;
c) Án phí dân sự phúc thẩm.
2. Vụ án dân sự không có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự không phải là một số tiền hoặc không thể xác định được giá trị bằng một số tiền cụ thể.
3. Vụ án dân sự có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự là một số tiền hoặc là tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể.

Công dân được quyền thay đổi họ, tên



1. Quyền thay đổi họ, tên.
Điều 27, 28 Mục 2 Chường III Bộ luật dân sự 2015, quy định chi tiết trường hợp được thay đổi họ, tên.
1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:
a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;
b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;

Xử lý thỏa thuận về lãi, lãi suất cao hơn mức lãi, lãi suất được pháp luật quy định


Xử lý thỏa thuận về lãi, lãi suất cao hơn mức lãi, lãi suất được pháp luật quy định
Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận về lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn cao hơn mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn được pháp luật quy định thì mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn vượt quá không có hiệu lực; số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi; số tiền lãi đã trả vượt quá còn lại sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay.

Xem thêm bài viết:

Xử lý việc không trả nợ đúng hạn trong hợp đồng vay tài sản


1. Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn.
2. Hợp đồng vay tài sản vừa có thỏa thuận phạt vi phạm, vừa có thỏa thuận lãi trên nợ gốc quá hạn hoặc hình thức khác áp dụng đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án căn cứ quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất để xem xét, quyết định xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn theo nguyên tắc hướng dẫn tại khoản 1 Điều này.

Xem thêm bài viết:


Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng



Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn.
Hợp đồng vay tài sản vừa có thỏa thuận phạt vi phạm, vừa có thỏa thuận lãi trên nợ gốc quá hạn hoặc hình thức khác áp dụng đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án căn cứ quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất để xem xét, quyết định xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn.
Quy trình xử lý việc không trả nợ đúng hạn được hướng dẫn chi tiết tại bài viết:
➤➤➤Kiện thu hồi công nợ Bình Dương

Xem thêm bài viết:


Pháp lệnh chia thừa kế












HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
--------











CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------
Số: 02/2004/NQ-HĐTP
Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2004

NGHỊ QUYẾT
HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ vào Luật Tổ chức Toà án nhân dân;
Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình;
Sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
QUYẾT NGHỊ:
I. VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI HIỆU
1. Việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu đối với các giao dịch dân sự
1.1. Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 1/7/1996 (ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực) mà các văn bản pháp luật trước đây có quy định về thời hiệu (thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện) thì phải áp dụng các quy định về thời hiệu của các văn bản pháp luật đó để xác định thời hiệu còn hay hết, không phân biệt giao dịch dân sự đó được thực hiện xong trước ngày 1/7/1996 hay từ ngày 1/7/1996. Trong trường hợp từ ngày 1/7/1996 các bên tham gia giao dịch dân sự có thoả thuận bổ sung thì cần phân biệt như sau:
a) Trường hợp các bên đang tiếp tục thực hiện hợp đồng dân sự hoặc khi hết hạn thực hiện hợp đồng, có thoả thuận kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng đó thì việc xác định thời hiệu căn cứ vào thoả thuận của các bên và được thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao kết hợp đồng.
b) Trường hợp các bên đang tiếp tục thực hiện hợp đồng dân sự, có thoả thuận bổ sung mà thoả thuận đó là một phần không tách rời của hợp đồng dân sự đó thì việc xác định thời hiệu đối với hợp đồng nói chung (bao gồm cả thoả thuận mới) được thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao kết hợp đồng.

Tòa án có thẩm quyền "bỏ quên" yêu cầu khởi kiện của đương sự.


Ngày 27/8/2016, Công ty Cổ phần A và Công ty TNHH Khảo sát và Kiểm định Xây dựng Đức Mỹ có ký các hợp đồng mua bán hàng hóa (gọi tắt là hợp đồng). Tổng giá trị Hợp đồng Các Bên đã ký là:  957.920.620 VNĐ (Chín trăm năm mươi bảy triệu chín trăm hai mươi nghìn sáu trăm hai mươi đồng).
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Cổ phần A đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với hợp đồng trên. Tuy nhiên Công ty TNHH Khảo sát và Kiểm định Xây dựng Đức Mỹ mới chỉ thanh toán 674.000.000 VNĐ và còn phải thanh toán là 281.637.447 VNĐ. Sau nhiều lần liên hệ nhưng không nhận được thiện chí từ phía Công ty TNHH Khảo sát và Kiểm định Xây dựng Đức Mỹ nên Công ty Cổ phần A đã tiến hành khởi kiện tại Tòa án nhân dân (goi tắt là TAND) thành phố Rạch Gía, tỉnh Kiên Giang. Điều đáng nói là Tòa án nhân dân TP Rạch giá dù tiếp nhận đơn nhưng không thực hiện việc xem xét giải quyết theo yêu cầu của đương sự.

Thời hạn thi hành án là bao lâu


I. THỜI HẠN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 30 Luật thi hành án dân sự quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án như sau: 
"1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.
Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
2. Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.
3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án".

Về người khởi kiện không có quyền khởi kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015



Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp;
b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.
Ví dụ: Tổ chức A (không phải là tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010) cho rằng Công ty B bán hàng hóa không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng như đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết dẫn đến việc chị C (người tiêu dùng) mua sử dụng bị thiệt hại nên Tổ chức A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty B bồi thường thiệt hại cho chị C. Trường hợp này, Tổ chức A không có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyn lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 3 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2. Yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm hoặc cần bảo vệ.
Ví dụ: Cụ A chết năm 2010, để lại di sản là căn nhà X nhưng không có di chúc và không có thỏa thuận khác. Cụ A có con là ông B (còn sống, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015). Trường hợp này, theo quy định của pháp luật về thừa kế thì anh C là con của ông B không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ A theo pháp luật.

Trích: NGHỊ QUYẾT 04/2017/NQ-HĐTP CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TANDTC NGÀY 05/5/2017 HƯỚNG DẪN MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 1 VÀ KHOẢN 3 ĐIỀU 192 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ SỐ 92/2015/QH13 VỀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN, QUYỀN NỘP ĐƠN KHỞI KIỆN LẠI VỤ ÁN