Trang chủ
»
Văn bản
Thông tư 03/2018/TT-BXD ngày 24/04/2018 hướng dẫn Nghị định 139/2017 ngày 27/11/2017 về xử phạt vi phạm hành chính trong đầu tư, xây dựng...
BỘ
XÂY DỰNG
------- |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- |
Số:
03/2018/TT-BXD
|
Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2018
|
THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ
139/2017/NĐ-CP NGÀY 27 THÁNG 11 NĂM 2017 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG; KHAI THÁC, CHẾ BIẾN, KINH DOANH
KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG, SẢN XUẤT, KINH DOANH VẬT LIỆU XÂY DỰNG; QUẢN
LÝ CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG KỸ THUẬT; KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN, PHÁT TRIỂN NHÀ Ở, QUẢN
LÝ SỬ DỤNG NHÀ VÀ CÔNG SỞ
Căn cứ Luật
Xây dựng ngày 18 tháng 6 năm 2014;
Căn cứ Luật
Xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012;
Căn cứ Nghị
định số 81/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
Căn cứ Nghị
định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ Nghị
định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành
chính;
Căn cứ Điều
81 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế
biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật
liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản,
phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở;
Theo đề nghị
của Chánh Thanh tra Bộ,
Bộ trưởng Bộ
Xây dựng ban hành Thông tư quy định chi tiết một số điều của Nghị định số
139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh
khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản
lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản
lý sử dụng nhà và công sở.
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Thông tư này
quy định chi tiết Điều 15 và Điều 79 của Nghị định số
139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh
doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng;
quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở,
quản lý sử dụng nhà và công sở (sau đây viết tắt là Nghị định số 139/2017/NĐ-CP).
2. Thông tư này
áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư xây dựng;
cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan khác.
Điều
2. Về áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng quy định
tại khoản 10 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
1. Việc tước
quyền sử dụng giấy phép xây dựng quy định tại khoản 10 Điều 15
Nghị định số 139/2017/NĐ-CP được áp dụng như sau:
a) Tước quyền sử
dụng giấy phép xây dựng từ 3 tháng đến 6 tháng đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 9 Điều 15;
b) Tước quyền sử
dụng giấy phép xây dựng từ 6 tháng đến 9 tháng đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 9 Điều 15;
c) Tước quyền sử
dụng giấy phép xây dựng từ 9 tháng đến 12 tháng đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 9 Điều 15.
2. Trong thời
hạn bị tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng cá nhân, tổ chức vi phạm không
được tổ chức thi công xây dựng.
3. Trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính có áp
dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, người có thẩm quyền ra
Quyết định phải thông báo bằng văn bản hoặc gửi quyết định xử phạt vi phạm hành
chính về Thanh tra Sở Xây dựng và cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng.
Điều
3. Về áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại quy định tại điểm c khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
1. Việc bồi
thường thiệt hại do Chủ đầu tư và bên bị thiệt hại tự thỏa thuận. Trường hợp
các bên không thỏa thuận được thì việc bồi thường thiệt hại được giải quyết
theo quy định của pháp luật dân sự.
2. Trường hợp
gây sụp đổ hoặc có nguy cơ gây sụp đổ công trình lân cận thì chủ đầu tư phải
dừng thi công xây dựng công trình và có biện pháp di dời ngay người và tài sản
của công trình lân cận. Chủ đầu tư có trách nhiệm thuê và trả chi phí thuê nhà
ở cho bên bị thiệt hại. Nhà được thuê phải đảm bảo các yếu tố về khoảng cách đi
lại, diện tích, hạ tầng xã hội để bên bị thiệt hại ổn định cuộc sống. Nếu bên
bị thiệt hại tự tìm chỗ ở (tương đương nơi ở bị ảnh hưởng) thì chủ đầu tư có
trách nhiệm trả cho bên bị thiệt hại số tiền tương ứng với số tiền thuê nhà và
chi phí di chuyển tài sản.
3. Sau khi biên
bản vi phạm hành chính được lập, Chủ đầu tư và bên bị thiệt hại không tự thỏa
thuận được về việc bồi thường thiệt hại và một bên có đơn yêu cầu gửi Chủ tịch
UBND cấp xã giải quyết thì được thực hiện theo trình tự như sau:
a) Trong thời
hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chủ tịch UBND cấp xã có trách
nhiệm tổ chức thỏa thuận lần đầu;
b) Hết thời hạn
07 ngày kể từ ngày thỏa thuận lần đầu không thành hoặc không tổ chức được thỏa
thuận lần đầu do một trong các bên vắng mặt, Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức thỏa
thuận lần hai;
c) Tại buổi thỏa
thuận lần hai mà một trong các bên vắng mặt không có lý do chính đáng thì Chủ
tịch UBND cấp xã quyết định thuê tổ chức tư vấn, có tư cách pháp nhân để xác
định mức bồi thường thiệt hại. Chi phí thuê do Chủ đầu tư chi trả. Sau khi xác
định mức bồi thường thiệt hại, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm yêu cầu Chủ
đầu tư chuyển tiền vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng do UBND cấp xã làm chủ
tài khoản. Chủ đầu tư chỉ được tiếp tục thi công xây dựng sau khi đã chuyển đủ
số tiền vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng;
d) Tại buổi thỏa
thuận lần hai mà hai bên không thống nhất được mức bồi thường thiệt hại thì hai
bên thống nhất thuê một tổ chức tư vấn, có tư cách pháp nhân để xác định mức
bồi thường thiệt hại. Trường hợp hai bên không thống nhất về tổ chức tư vấn
được thuê hoặc mức bồi thường thiệt hại do tổ chức tư vấn được thuê xác định
thì Chủ tịch UBND cấp xã thuê một tổ chức tư vấn xác định mức bồi thường thiệt
hại. Chi phí thuê do Chủ đầu tư chi trả. Căn cứ kết quả xác định mức bồi thường
thiệt hại, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm yêu cầu Chủ đầu tư chuyển tiền
vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng do UBND cấp xã làm chủ tài khoản. Chủ đầu
tư chỉ được tiếp tục thi công xây dựng sau khi đã chuyển đủ số tiền vào tài
khoản bảo lãnh tại ngân hàng;
đ) Trường hợp
một bên không thống nhất với mức bồi thường thiệt hại thì có quyền khởi kiện
tại Tòa án.
4. Trường hợp
Chủ đầu tư không bị xử phạt vi phạm hành chính thì khuyến khích áp dụng quy
định tại khoản 3 Điều này để giải quyết việc bồi thường thiệt hại.
5. Bên vi phạm
chỉ được tiếp tục thi công xây dựng khi các bên đạt được thỏa thuận và đã hoàn
thành việc bồi thường thiệt hại hoặc đã tuân thủ trình tự giải quyết quy định
tại khoản 3 Điều này.
Điều
4. Về áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng quy
định tại điểm d khoản 11 Điều 15 Nghị định số
139/2017/NĐ-CP
1. Khi người có
thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản
2, khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP,
mà hành vi này đã kết thúc, thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, cá
nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần
công trình xây dựng vi phạm.
2. Công trình, phần công trình
xây dựng vi phạm phải được tháo dỡ theo phương án, giải pháp phá dỡ được phê
duyệt cho đến khi phần còn lại của công trình đảm bảo an toàn
chịu lực khi đưa vào sử dụng.
3. Chủ đầu tư có
trách nhiệm tổ chức lập, thẩm tra, phê duyệt và thực hiện phương
án, giải pháp phá dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm theo quy định
tại khoản 2 Điều này. Phương án, giải pháp phá dỡ phải đảm bảo an toàn công
trình xây dựng sau khi phá dỡ phần vi phạm, tính mạng, sức khỏe, công trình xây
dựng lân cận và đảm bảo vệ sinh, môi trường.
4. Trường hợp
chủ đầu tư không tự giác chấp hành biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công
trình xây dựng vi phạm thì bị cưỡng chế thi hành. Người có thẩm quyền ra quyết
định cưỡng chế thuê tổ chức tư vấn lập phương án, giải pháp phá dỡ,
giao cơ quan chuyên môn về xây dựng cùng cấp thẩm định trước khi quyết định phê
duyệt phương án, giải pháp phá dỡ. Chủ đầu tư có trách nhiệm chi trả toàn bộ
chi phí liên quan đến việc cưỡng chế tháo dỡ công trình, phần công trình xây
dựng vi phạm: lập, thẩm định, phê duyệt phương án, giải pháp phá dỡ và tổ chức
cưỡng chế tháo dỡ.
Điều
5. Về áp dụng biện pháp dừng thi công xây dựng để làm thủ tục xin cấp giấy phép
xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng quy định tại khoản 12, khoản 13 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
1. Khi người có
thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản
2, khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP,
mà hành vi này đang xảy ra, thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, cá
nhân, tổ chức vi phạm còn bị xử lý như sau:
a) Cá nhân, tổ
chức vi phạm phải dừng thi công xây dựng kể từ thời điểm lập biên bản vi phạm
hành chính. Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính theo mẫu số 01
ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Trong thời
hạn quy định, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính có trách
nhiệm ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp không có thẩm
quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày lập
biên bản vi phạm hành chính, người lập biên bản phải chuyển biên bản vi phạm
hành chính và hồ sơ vụ việc (nếu có) đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính. Người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo
mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này;
c) Trong thời
hạn tối đa 60 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức
vi phạm có trách nhiệm thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy phép xây dựng hoặc
điều chỉnh giấy phép xây dựng và xuất trình người có thẩm quyền xử phạt giấy
phép xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh;
d) Hết thời hạn
quy định tại điểm c khoản này mà cá nhân, tổ chức vi phạm không xuất trình giấy
phép xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh thì người có thẩm quyền xử phạt ra
thông báo thực hiện biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng
vi phạm theo mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư này. Thông báo được gửi cá
nhân, tổ chức vi phạm, UBND cấp xã nơi có công trình vi phạm bằng hình thức gửi
bảo đảm và niêm yết công khai tại công trình vi phạm. Trường hợp cá nhân, tổ
chức vi phạm không nhận thông báo hoặc gỡ bỏ thông báo được niêm yết tại công
trình vi phạm thì UBND cấp xã nơi có công trình vi phạm có trách nhiệm niêm yết
công khai thông báo tại trụ sở UBND cấp xã. Trong thời hạn tối đa 15 ngày kể từ
ngày gửi thông báo (tính theo dấu bưu điện), cá nhân, tổ chức vi phạm có trách
nhiệm thực hiện biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi
phạm;
đ) Trong thời
hạn tối đa 05 ngày kể từ ngày cá nhân, tổ chức vi phạm xuất trình giấy phép xây
dựng được cấp hoặc được điều chỉnh, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm
tổ chức kiểm tra hiện trạng công trình xây dựng, lập biên bản ghi nhận sự phù
hợp của hiện trạng công trình với giấy phép xây dựng được cấp hoặc được điều
chỉnh. Biên bản kiểm tra, ghi nhận hiện trạng công trình được lập theo mẫu số
04 ban hành kèm theo Thông tư này;
e) Cá nhân, tổ
chức vi phạm chỉ được tiếp tục thi công xây dựng nếu biên bản kiểm tra, ghi
nhận hiện trạng công trình xác nhận hiện trạng công trình phù hợp với giấy phép
xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh. Trường hợp biên bản kiểm tra, ghi nhận
hiện trạng công trình xác nhận hiện trạng công trình không phù hợp với giấy phép
xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh thì trong thời hạn tối đa 15 ngày kể từ
ngày lập biên bản kiểm tra, ghi nhận hiện trạng công trình, cá nhân, tổ chức vi
phạm phải buộc tháo dỡ công trình, phần công trình không phù hợp với giấy phép
xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh.
2. Cách xác định
thời hạn bằng số ngày quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy
định tại Điều 147 và Điều 148 Bộ luật dân sự.
3. Cá nhân, tổ
chức vi phạm không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, không thực
hiện biện pháp buộc tháo dỡ quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì
bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
và quy định tại khoản 4 Điều 4 Thông tư này.
4. Trường hợp
điều chỉnh thiết kế xây dựng mà không thuộc trường hợp phải điều chỉnh giấy
phép xây dựng theo quy định tại Điều 98 Luật Xây dựng thì
không coi là hành vi xây dựng sai nội dung giấy phép được cấp theo quy định tại
khoản 2, khoản 4 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP.
Điều
6. Về áp dụng quy định chuyển tiếp tại Điều 79 Nghị
định số 139/2017/NĐ-CP
1. Hành vi xây dựng sai nội
dung giấy phép xây dựng; xây dựng không có giấy phép xây dựng mà theo quy định
phải có giấy phép xây dựng; xây dựng sai thiết kế được phê duyệt, sai quy hoạch
xây dựng được phê duyệt hoặc thiết kế đô thị được phê duyệt đối với trường hợp
được miễn giấy phép xây dựng, ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, còn bị
áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp theo quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP nếu đáp ứng đủ 6
điều kiện sau đây:
a) Hành vi vi phạm xảy ra từ
ngày 04/01/2008 và đã kết thúc trước ngày 15/01/2018 nhưng sau ngày 15/01/2018
mới được người có thẩm quyền phát hiện hoặc đã được phát hiện trước ngày
15/01/2018 và đã có một trong các văn bản sau đây: Biên bản vi phạm hành chính,
quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục
hậu quả hoặc quyết định áp dụng bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả;
b) Không vi phạm chỉ giới xây
dựng;
c) Không ảnh hưởng các công
trình lân cận;
d) Không có tranh chấp;
đ) Xây dựng trên đất thuộc
quyền sử dụng hợp pháp;
e) Nay phù hợp với quy hoạch
xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
2. Kể từ ngày
15/01/2018, cá nhân, tổ chức xây dựng nhà ở riêng lẻ có hành vi vi phạm thuộc
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được miễn áp dụng biện pháp buộc nộp
lại số lợi bất hợp pháp quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định
số 121/2013/NĐ-CP.
3. Số lợi bất
hợp pháp mà cá nhân, tổ chức có hành vi quy định tại khoản 1 Điều này phải nộp
được xác định như sau:
a) Trường hợp xây dựng công
trình nhằm mục đích kinh doanh: Số lợi bất hợp pháp là tổng số m2
sàn xây dựng vi phạm nhân với đơn giá 1m2 theo hợp đồng mua bán,
chuyển nhượng đã ký nhưng không được thấp hơn suất vốn đầu tư đối với cùng loại,
cấp công trình do cơ quan có thẩm quyền ban hành, nhân với 50%;
b) Trường hợp xây dựng công
trình không nhằm mục đích kinh doanh: Số lợi bất hợp pháp là tổng số m2
sàn xây dựng vi phạm nhân với chi phí 1m2 sàn xây dựng theo dự toán
được duyệt nhưng không được thấp hơn suất vốn đầu tư đối với cùng loại, cấp
công trình do cơ quan có thẩm quyền ban hành, nhân với 50%;
c) Trường hợp không có hợp đồng
mua bán, chuyển nhượng đã ký hoặc dự toán được duyệt: Số lợi bất hợp pháp được
xác định là tổng m2 sàn xây dựng vi phạm nhân với suất vốn đầu tư
đối với cùng loại, cấp công trình do cơ quan có thẩm quyền ban hành, nhân với
50%;
d) Người có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính áp dụng suất vốn đầu tư tại thời điểm ban hành quyết định xử
phạt vi phạm hành chính và chịu trách nhiệm xác định số lợi bất hợp pháp phải
nộp theo quy định tại điểm a, điểm b hoặc điểm c khoản này.
4. Hành vi vi
phạm mà đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 1, nhưng
không đáp ứng điều kiện quy định tại điểm e khoản 1 Điều này, thì xử lý như
sau:
a) Hành vi vi phạm được người
có thẩm quyền phát hiện trước ngày 15/01/2018, đã lập biên bản vi phạm hành
chính, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp
buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp nhưng đến ngày 15/01/2018 cá nhân, tổ chức vi
phạm vẫn chưa thực hiện việc nộp phạt (nếu có) và nộp số lợi bất hợp pháp, thì
người có thẩm quyền xử phạt ban hành quyết định áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ
công trình, phần công trình xây dựng vi phạm theo quy định tại điểm
d khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP thay thế biện pháp buộc nộp
lại số lợi bất hợp pháp;
b) Hành vi vi
phạm được người có thẩm quyền phát hiện kể từ ngày 15/01/2018 thì xử phạt theo
quy định tại Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP. Trường
hợp Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP có mức phạt đối với
hành vi đó cao hơn mức phạt quy định tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP thì áp
dụng mức phạt quy định tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP và áp dụng biện pháp
buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm theo quy định tại điểm d khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP. Trường
hợp hết thời hiệu xử phạt thì không ra quyết định xử phạt hành chính nhưng vẫn
ra quyết định áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây
dựng vi phạm.
Điều
7. Điều khoản thi hành.
1. Thông tư này
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12 tháng 6 năm 2018, thay thế Thông tư số
02/2014/TT-BXD ngày 12 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10
tháng 10 năm 2013 của Chính phủ xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây
dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây
dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở.
2. Các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách
nhiệm thi hành Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng
mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Xây dựng để xem xét, giải quyết./.
PHỤ
LỤC
MỘT SỐ BIỂU MẪU XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
(Ban hành kèm theo Thông tư số 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng)
(Ban hành kèm theo Thông tư số 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng)
TT
|
Mẫu
biểu
|
Nội
dung
|
1
|
Mẫu
số 01
|
Biên bản vi phạm hành chính
|
2
|
Mẫu
số 02
|
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
|
3
|
Mẫu
số 03
|
Thông báo về việc thực hiện biện pháp
buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm
|
4
|
Mẫu
số 04
|
Biên bản kiểm tra, ghi nhận sự phù
hợp của hiện trạng công trình xây dựng với giấy phép xây dựng được cấp hoặc
điều chỉnh
|
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019, về lãi, lãi suất, phạt vi phạm
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO ------- |
|
Số: 01/2019/NQ-HĐTP
|
Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2019
|
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;
Để áp dụng đúng và thống nhất quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt
vi phạm;
Sau khi có ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ
trưởng Bộ Tư pháp,
QUYẾT NGHỊ:
Nghị
quyết này hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất,
phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản; lãi suất trung bình trên thị trường;
quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án.
Hợp
đồng vay tài sản hướng dẫn trong Nghị quyết này bao gồm hợp đồng cho vay tài
sản là tiền giữa tổ chức tín dụng với khách hàng (sau đây gọi là hợp đồng tín
dụng) và hợp đồng vay tài sản là tiền giữa cá nhân, pháp nhân không phải là tổ
chức tín dụng với nhau (sau đây gọi là hợp đồng vay tài sản không phải là hợp
đồng tín dụng).
1.
Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập trước ngày
01-01-2017 (ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 bắt đầu có hiệu lực) thì việc áp dụng
pháp luật về lãi, lãi suất xác định như sau:
a)
Hợp đồng được thực hiện xong là hợp đồng mà các bên đã hoàn thành xong các quyền,
nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà
pháp luật có quy định.
Hợp
đồng được thực hiện xong trước ngày 01-01-2017 mà có tranh chấp thì áp dụng Bộ
luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về
việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết,
hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết;
Ví dụ 1: Ngày 20-12-2015, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 10.000.000.000
đồng, thời hạn vay 01 năm, lãi suất thỏa thuận là 18%/năm; hợp đồng có hiệu lực
và bà B đã trả xong nợ gốc và lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Ngày
20-02-2018, bà B khởi kiện yêu cầu ông A trả lại tiền lãi do mức lãi suất vượt
quá 150% mức lãi suất cơ bản theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (quy định mức lãi suất cơ bản là 9%/năm, tương
ứng với mức 150% lãi suất cơ bản là 13,5%/năm). Trường hợp này, Tòa án phải áp
dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định lãi
suất, lãi suất vượt quá.
b)
Hợp đồng chưa được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa phải thực hiện quyền,
nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà
pháp luật có quy định.
Hợp
đồng chưa được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân
sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy
phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để
giải quyết; trường hợp lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân
sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số
45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn
bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm
2005 để giải quyết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ
sung về lãi, lãi suất phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 và để áp dụng quy
định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
c)
Hợp đồng đang được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa thực hiện xong quyền,
nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà
pháp luật có quy định.
Hợp
đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ
luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị
quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân
sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật
Dân sự năm 2005 để giải quyết.
Hợp
đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân
sự năm 2015 thì việc áp dụng pháp luật để xác định lãi, lãi suất như sau:
Đối
với khoảng thời gian trước ngày 01-01-2006 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân
sự năm 1995, Nghị quyết ngày 28-10-1995 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật
Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm
1995.
Đối
với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017 thì áp dụng
quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005
của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy
định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005.
Đối
với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự
năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ
luật Dân sự năm 2015.
Ví dụ 2: Ngày 01-01-2003, ông A cho bà B vay
100.000.000 đồng (hợp đồng vay không kỳ hạn), lãi suất thỏa thuận là 18%/năm.
Ngày 01-01-2018, ông A khởi kiện yêu cầu bà B trả gốc và lãi theo hợp đồng.
Trường hợp này, từ ngày 01-01-2003 đến trước ngày 01-01-2006, Tòa án áp dụng Điều 473 của Bộ luật Dân
sự năm 1995 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng
dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 để xác định lãi, lãi suất; từ ngày
01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng Điều
476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định
lãi, lãi suất; kể từ ngày 01-01-2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm, Tòa án áp
dụng Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
2.
Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập kể từ ngày
01-01-2017 thì áp dụng quy định về lãi, lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2015 và
văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự
năm 2015 để giải quyết.
3.
Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng có lãi, lãi suất phù hợp
với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hướng dẫn tại khoản 1 Điều này khi
thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a)
Mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ví dụ 3: Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng,
lãi suất thỏa thuận là 18%/năm. Mức lãi suất 18%/năm không vượt quá mức lãi
suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
nên thỏa thuận này phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
b)
Lãi, lãi suất theo thỏa thuận được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng không
được pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy
định.
Ví dụ 4: Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng,
lãi suất thỏa thuận là 18%/năm, lãi trên nợ lãi theo mức lãi suất là 0,1%/năm.
Thỏa thuận lãi trên nợ lãi là nội dung không được Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ
luật Dân sự năm 2005 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn
áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định nhưng được Bộ
luật Dân sự năm 2015 quy định nên thỏa thuận lãi trên nợ lãi là phù hợp quy
định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
c)
Lãi, lãi suất, được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng pháp luật trước ngày
Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định khác.
Ví dụ 5: Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng
không có lãi, thời hạn vay là 03 năm. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về
việc trả lãi đối với nợ gốc quá hạn thì việc tính lãi đối với nợ gốc quá hạn
chưa trả từ ngày tiếp theo của ngày đến hạn trả nợ (ngày 21-01-2019) là phù hợp
với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Hợp
đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng xác lập trước ngày 01-01-2006
thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị
quyết này thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được
xác định như sau:
1.
Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không
đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc quá hạn theo lãi suất tiết
kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ tương ứng
với thời gian chậm trả, nếu các bên có thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ
gốc quá hạn.
Tiền
lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất tiết
kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ) x (thời
gian chậm trả nợ gốc).
2.
Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì
lãi, lãi suất được xác định như sau:
a)
Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không được
vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại
cho vay tương ứng tại thời điểm xác lập hợp đồng tương ứng với thời gian vay
chưa trả lãi. Trường hợp các bên không xác định rõ lãi suất thì áp dụng lãi
suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ.
Tiền
lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa
thuận) hoặc (lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại
thời điểm trả nợ) x (thời gian vay chưa trả lãi);
Tiền
lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất tiết
kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ) x (thời
gian chậm trả nợ gốc);
3.
Khi xác định lãi, lãi suất theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì
Tòa án không được tính lãi trên nợ lãi chưa trả.
Hợp
đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng xác lập trước ngày 01-01-2017
thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị
quyết này thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được
xác định như sau:
1.
Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không
đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc quá hạn theo lãi suất cơ bản
do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm
trả, nếu các bên có thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ gốc quá hạn.
Tiền
lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất cơ bản
do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ
gốc).
2.
Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì
lãi, lãi suất được xác định như sau:
a)
Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt
quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập
hợp đồng tương ứng với thời gian vay chưa trả lãi. Trường hợp các bên không xác
định rõ lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại
thời điểm trả nợ.
Tiền
lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa
thuận hoặc lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập
hợp đồng) x (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc);
b)
Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước
công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả.
Tiền
lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất cơ bản
do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ
gốc);
3.
Khi xác định lãi, lãi suất theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tòa
án không được tính lãi trên nợ lãi chưa trả.
Hợp
đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017
hoặc xác lập trước ngày 01-01-2017 nhưng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân
sự năm 2015 theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này thì tại thời điểm xét xử sơ
thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:
1.
Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không
đầy đủ thì theo yêu cầu của bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền
lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm
trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác hoặc luật có quy định khác.
Tiền
lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất theo
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc);
2.
Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì
lãi, lãi suất được xác định như sau:
a)
Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt
quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015 tương ứng với thời hạn vay chưa trả lãi trên nợ gốc tại thời
điểm xác lập hợp đồng. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng
không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50%
mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ.
Tiền
lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa
thuận hoặc 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian vay chưa
trả lãi trên nợ gốc).
b)
Trường hợp chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn thì còn phải trả lãi trên nợ lãi
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả tiền lãi
trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Tiền
lãi trên nợ lãi chưa trả = (nợ lãi chưa trả) x (lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả
nợ) x (thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc);
c)
Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% mức lãi suất vay do các bên thỏa
thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác. Mức lãi suất trên nợ gốc quá hạn do các bên thỏa thuận không được
vượt quá 150% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ
luật Dân sự năm 2015.
Tiền
lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất do các
bên thỏa thuận hoặc 150% lãi suất vay do các bên thỏa thuận) x (thời gian chậm
trả nợ gốc).
1.
“Thời điểm xét xử sơ thẩm” hướng dẫn tại Nghị quyết này là ngày Tòa án ra Quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc ngày Tòa án tuyên án khi xét
xử sơ thẩm hoặc xét xử sơ thẩm lại.
2.
“Thời điểm trả nợ” hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết này là thời điểm
xét xử sơ thẩm.
3.
“Thời gian chậm trả” hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết này được xác
định như sau:
a)
Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ
ngày tiếp theo liền kề của ngày hết “thời gian hợp lý” đến thời điểm xét xử sơ
thẩm. “Thời gian hợp lý” quy định tại Điều 474 của Bộ luật Dân
sự năm 1995, Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 do Tòa án căn cứ vào từng
trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày
thông báo;
b)
Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày
tiếp theo liền kề của ngày hết kỳ hạn vay đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác;
c)
Thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc chưa trả bắt đầu kể từ ngày tiếp theo
liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
1.
Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp
với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy
định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác
lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất.
2.
Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật
Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn
áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về
giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác
định lãi, lãi suất.
1.
Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng xác lập
trước ngày 01-01-2017 được xác định như sau:
a)
Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả được xác định theo lãi suất các bên thỏa
thuận nhưng phải phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp
luật quy định về lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập
hợp đồng, thời điểm tính lãi suất tương ứng với thời hạn vay chưa trả.
b)
Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả được xác định theo thỏa thuận của các bên
nhưng phải phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật
quy định về lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp
đồng.
2.
Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng xác lập kể
từ ngày 01-01-2017 được xác định như sau:
a)
Lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn được xác định theo quy định tại khoản
1 Điều này.
b)
Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận
tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức
tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà
pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn.
3.
Thời gian chậm trả tiền nợ gốc bắt đầu kể từ ngày chuyển nợ quá hạn đến thời
điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
4.
Thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề
của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp
các bên có thỏa thuận khác.
Hợp
đồng vay tài sản có thỏa thuận về lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên
nợ lãi quá hạn cao hơn mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi
quá hạn được pháp luật quy định thì mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi
trên nợ lãi quá hạn vượt quá không có hiệu lực; số tiền lãi đã trả vượt quá mức
lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn quy định được trừ
vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi; số tiền lãi đã trả vượt quá còn lại
sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay.
Trường
hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi
suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp
luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi
suất.
Trường
hợp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 306 của Luật
Thương mại năm 2005 thì khi xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm
trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của
ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương
Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng
giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết,
xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết
định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp
luật có quy định khác.
1.
Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn
của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần
đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn.
2.
Hợp đồng vay tài sản vừa có thỏa thuận phạt vi phạm, vừa có thỏa thuận lãi trên
nợ gốc quá hạn hoặc hình thức khác áp dụng đối với hành vi không trả nợ đúng
hạn của bên vay thì Tòa án căn cứ quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự, Luật
Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn
áp dụng Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp
đồng, thời điểm tính lãi suất để xem xét, quyết định xử lý đối với hành vi
không trả nợ đúng hạn theo nguyên tắc hướng dẫn tại khoản 1 Điều này.
1.
Khi giải quyết vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có
nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án thì Tòa án phải
quyết định trong bản án hoặc quyết định (Phần quyết định) như sau:
a)
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa
thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ
thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận
nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức
lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
b)
Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật
có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp
đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.
“Mức lãi suất hai bên thỏa thuận” hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi
suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án. Trường hợp,
các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá
hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
1.
Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua
ngày 11 tháng 01 năm 2019 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 3 năm
2019.
2.
Đối với những vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày Nghị quyết
này có hiệu lực nhưng kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Nghị quyết này để giải quyết.
3.
Đối với những vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý giải quyết và bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị quyết này có
hiệu lực thi hành thì không áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa
án bị kháng nghị theo căn cứ khác.
Nghị quyết 02/2016 Hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Tố tụng hành chính
HỘI ĐỒNG THẨM
PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO -------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- |
Số: 02/2016/NQ-HĐTP
|
Hà Nội, ngày 30
tháng 6 năm 2016
|
NGHỊ
QUYẾT
HƯỚNG
DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 103/2015/QH13 NGÀY 25-11-2015
CỦA QUỐC HỘI VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ
104/2015/QH13 NGÀY 25-11-2015 CỦA QUỐC HỘI VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT TỐ TỤNG HÀNH
CHÍNH
HỘI
ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật tổ chức Tòa án
nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự
số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Căn cứ Luật tố tụng hành
chính số 93/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Để áp dụng đúng và thống nhất
một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015, Nghị
quyết số 104/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Sau khi có ý kiến thống nhất
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
QUYẾT
NGHỊ:
Điều 1. Áp dụng pháp luật tố tụng dân sự
và tố tụng hành chính để giải quyết vụ việc dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, vụ án hành chính
1. Kể từ ngày Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01-7-2016), Tòa án áp dụng quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị quyết số 103/2015/QH13 để giải
quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ việc dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trừ các trường
hợp quy định tại Khoản 1 Điều 517 Bộ luật tố tụng dân sự
số 92/2015/QH13 thì được áp dụng từ ngày 01-01-2017.
2. Kể từ ngày Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01-7-2016), Tòa
án áp dụng quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị
quyết số 104/2015/QH13 để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án hành chính, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 371 Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 thì được áp dụng từ ngày 01-01-2017.
Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của HĐTP TANDTC Hướng dẫn trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO ------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- |
Số: 04/2017/NQ-HĐTP
|
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2017
|
NGHỊ
QUYẾT
HƯỚNG DẪN
MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 1 VÀ KHOẢN 3 ĐIỀU 192 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ SỐ
92/2015/QH13 VỀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN, QUYỀN NỘP ĐƠN KHỞI KIỆN LẠI VỤ ÁN
HỘI ĐỒNG
THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày
24 tháng 11 năm 2014;
Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy
định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự ngày 25 tháng 11
năm 2015;
Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và Bộ
trưởng Bộ Tư pháp,
QUYẾT
NGHỊ:
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Nghị quyết này
hướng dẫn một số quy định về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại
vụ án tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số
92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 (sau đây gọi tắt là Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015).
Điều 2. Về người khởi kiện không có quyền khởi kiện
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015
Người khởi kiện
không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
1. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều
186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
a) Cơ quan, tổ
chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều
186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện
không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp
pháp;
b) Cơ quan, tổ
chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều
187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện
không thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.
Ví dụ: Tổ chức A
(không phải là tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo
quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng năm 2010) cho rằng Công ty B bán hàng hóa không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng như đã công bố, niêm yết,
quảng cáo hoặc cam kết dẫn đến việc chị C (người tiêu dùng) mua sử dụng bị thiệt hại nên Tổ
chức A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty B bồi thường thiệt hại cho
chị C. Trường hợp này, Tổ
chức A không có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 3 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2. Yêu cầu khởi
kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng
đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị
xâm phạm hoặc cần bảo vệ.
Ví dụ: Cụ A chết
năm 2010, để lại di sản là căn nhà X nhưng không có di chúc và không có thỏa
thuận khác. Cụ A có con là ông B (còn sống, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều
621 Bộ luật dân sự năm 2015). Trường hợp này, theo quy định của pháp luật
về thừa kế thì anh C là con
của ông B không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ A theo pháp luật.
Điều 3. Về chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
1. Chưa có đủ
điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng
dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá
nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi
ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu
một trong các điều kiện đó.
Ví dụ: Công ty A
là người sử dụng lao động ký hợp đồng với ông B, trong hợp đồng ghi rõ ông B sẽ
được Công ty cho đi học nghề 01 năm, đồng thời ông B có nghĩa vụ làm việc tại
Công ty ít nhất là 05 năm kể từ thời điểm học xong. Tuy nhiên, sau khi học xong
ông B chỉ làm việc ở Công ty A 02 năm. Công ty A khởi kiện ông B ra Tòa án buộc
ông B hoàn trả chi phí đào tạo học nghề khi chưa tiến hành thủ tục hòa giải của
hòa giải viên lao động. Trường hợp này, theo quy định tại Điều
201 Bộ luật lao động năm 2012, khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015 thì Công ty A chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án.
2. Đối với tranh
chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều
202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi
kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015.
Đối với tranh
chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên
quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài
sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.
Điều 4. Về vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015
Vụ án không
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là trường hợp mà theo quy định của pháp
luật thì các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,
lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết.
Ví dụ: Theo quy
định tại khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì tranh
chấp đất đai mà đối với thửa đất đó cơ quan, tổ chức, cá nhân không có Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định
tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 có quyền lựa chọn Tòa án
nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc
Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3
Điều 203 Luật đất đai năm 2013 để giải quyết tranh chấp. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã nộp đơn yêu
cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và cơ quan đó
đang giải quyết tranh chấp thì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Điều 5. Về địa chỉ của người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan
1. “Địa chỉ nơi
cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được
xác định như sau:
a) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn
quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ
chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường
trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú;
b) Nếu người bị
kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài đang cư trú
tại Việt Nam thì nơi cư trú của họ được xác định theo quy định của Luật Nhập
cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;
c) Nếu người bị
kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài, người Việt
Nam đang cư trú ở nước ngoài thì nơi cư trú của họ được xác định căn cứ vào tài
liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ do cơ
quan có thẩm quyền cấp, xác nhận;
d) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là cơ quan, tổ chức có quốc tịch Việt Nam thì địa chỉ của cơ quan,
tổ chức được xác định là nơi cơ quan, tổ chức đó có trụ sở chính hoặc chi nhánh
theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp
luật;
Trường hợp cơ quan,
tổ chức có quốc tịch nước ngoài thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định
căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu,
chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận.
2. Người khởi
kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người
bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định
của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện
mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng
minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi
đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy
định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015.
3. Địa chỉ “nơi
cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại điểm đ, e khoản 4
Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là địa chỉ người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở mà người
khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh.
Điều 6. Xử lý
việc ghi địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Trường hợp
trong đơn khởi kiện người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị
kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết này thì Tòa án phải
nhận đơn khởi kiện và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.
2. Trường hợp
sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tổng đạt được thông báo về việc thụ
lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú,
làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án
giải quyết như sau:
a) Trường hợp
trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú,
làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được
coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”.
Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi
cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư
trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3
Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố
tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không
đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tổng đạt được cho bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
b) Trường hợp
trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi có trụ
sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ
chức theo hướng dẫn tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị quyết này thì được coi là
“đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ trụ sở”. Trường hợp cơ quan, tổ chức thay đổi trụ sở mà không công bố công khai theo
quy định tại khoản 1 Điều 79 Bộ luật dân sự năm 2015 thì
được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ
tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan;
c) Trường hợp
không thuộc điểm a, b khoản 2 Điều này mà Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp
địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nguyên đơn
không cung cấp được thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới
của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định
tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.
Trường hợp sau
khi thụ lý vụ án mà phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án
yêu cầu nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập cung cấp địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đó. Nếu nguyên đơn,
bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập không cung cấp được địa chỉ thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác
minh địa chỉ theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án không xác định được
địa chỉ thì đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố
của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có liên
quan đến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đó theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trừ
trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.
3. Tòa án vẫn
tiếp tục giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với vụ án
tranh chấp về thừa kế tài sản có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc
diện thừa kế mà nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ và Tòa án đã tiến hành
các biện pháp để thu thập, xác minh địa chỉ theo đúng quy định của pháp luật
nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của người đó thì Tòa án vẫn giải quyết vụ
án theo quy định của pháp luật. Phần tài sản mà người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm được địa chỉ được nhận thì Tòa án tạm
giao cho người thân thích của người đó hoặc người thừa kế khác quản lý. Quyền,
nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm
được địa chỉ sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu;
b) Các trường
hợp quy định tại điểm b, c khoản 5 và điểm c khoản 6 Điều 477
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
c) Các trường
hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp vụ
án bị đình chỉ giải quyết theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều này thì theo
quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015, người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án đó khi cung cấp được đầy
đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Điều 7. Quyền
nộp đơn khởi kiện lại vụ
án quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015
1. Người khởi
kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án khi thuộc một trong các trường hợp
quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 và các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.
2. Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không quy
định căn cứ trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết, vì vậy,
Tòa án không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết để trả lại đơn khởi kiện.
Trường hợp kể từ ngày 01-01-2012, Tòa án trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời
hiệu khởi kiện đã hết và thời hạn giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả
lại đơn khởi kiện đã hết mà đương sự có yêu cầu khởi kiện lại vụ án đó thì Tòa
án xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.
3. "Các trường hợp khác theo quy định của pháp
luật" quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015 là các trường hợp trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
chưa quy định nhưng đã được quy định trong Nghị quyết này, các văn bản quy phạm
pháp luật khác hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
"Các trường
hợp khác theo quy định của pháp luật" quy định trong Nghị quyết này là:
a) Đối với những
vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01-01-2017, Tòa án đã
trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại
đơn khởi kiện vì lý do "thời hiệu khởi kiện đã hết" nhưng theo quy định tại khoản
1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thời hiệu khởi
kiện vụ án đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án
theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm
2015 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015.
Đối với những vụ
án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01-01-2017 đã được Tòa án
giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì theo quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện không có
quyền nộp đơn khởi kiện lại
vụ án đó;
b) Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết
thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01-01-2017 Tòa án đã ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khởi
kiện chia tài sản chung, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều
623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ
án chia thừa kế đối với di sản thừa kế đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền
nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 688 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015 và Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là
di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày
01-01-2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực
pháp luật thì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện
lại vụ án đó;
c) Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị quyết này.
Điều 8. Hiệu lực thi hành
1. Nghị quyết
này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng
4 năm 2017 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2017.
2. Đối với những
vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động mà Tòa án
đã thụ lý trước khi Nghị quyết này có hiệu lực thi hành nhưng chưa xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm hoặc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để giải quyết.
3. Đối với bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị quyết này có
hiệu lực thi hành thì không áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm.
4. Trong quá
trình triển khai thi hành, nếu có vướng mắc hoặc đề xuất, kiến nghị thì phản
ánh về Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để
có hướng dẫn kịp thời.
Nơi nhận: - Ủy ban Thường vụ Quốc hội; - Ủy ban Pháp luật của Quốc hội; - Ủy ban Tư pháp của Quốc hội; - Ban Chỉ đạo CCTPTƯ; - Ban Nội chính Trung ương; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Văn phòng Chính phủ (02 bản); - Viện kiểm sát nhân dân tối cao; - Bộ Tư pháp; - Các Thẩm phán TANDTC; - Các đơn vị thuộc TANDTC; - Các TAND và TAQS các cấp; - Lưu: VT, Vụ PC&QLKH. |
TM.
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
CHÁNH ÁN Nguyễn Hòa Bình |




